|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số:185/2024/HS-ST Ngày: 01/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đôn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Trung, bà Nguyễn Thị Bạn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 156/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh N; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18 tháng 12 năm 2000, tại tỉnh Đắk Lắk;
Trú tại: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12;
Con ông: Nguyễn Viết D, sinh năm: 1960. Con bà Huỳnh Thị H, sinh năm: 1966; Bị cáo chưa có chồng, con;
Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/01/2024 cho đến nay. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L. Sinh năm 1962. Trú tại: Tổ dân phố I, phường K, thành phố B
- Bà Lê Thị Kim P. Sinh năm 1989. Trú tại: 2 V, phường K, thành phố B
- Bà Từ Thị Kiều T. Sinh năm 1986. Trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B
- Bà Đậu Thị H1, Sinh năm 1993. Trú tại: Tổ dân phố A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
- Bà Nguyễn Thị V. Sinh năm 1983. Trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1. Sinh năm 1997. Trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 7 năm 2023, Nguyễn Thị Thanh N biết nhiều người dân trên địa bàn thành phố B có nhu cầu vay tiền nhưng không có nguồn vay, nên N này sinh ý định sử dụng tiền cá nhân để cho người khác vay, theo hình thức cho vay tiền góp với lãi suất cao để thu lợi bất chính. Khi cho vay tiền, N thỏa thuận với người vay tiền như sau: Các gói vay tiền từ 5.000.000 đồng (đ) đến 10.000.000đ/ 01 lần vay, đóng tiền lãi và gốc trong vòng 21 ngày đến 30 ngày, mỗi ngày đóng 5% tổng số tiền của gói vay. N sẽ thu tiền phí vay (khoảng 5% tổng số tiền của gói vay) hoặc không thu phí tùy từng người, số tiền còn lại N sẽ đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng của người vay.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay... Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Lãi suất cao nhất theo quy định = số tiền vay x 20% x số ngày vay
365
Lãi suất năm = (( Số tiền lãi: số tiền gốc) x 100%)) x 365
Số ngày vay
Lãi suất vượt quá = Lãi suất năm
20%
Hình thức của N cho vay là trả tiền gốc và tiền lãi theo ngày trong một thời hạn nhất định. Ngoài ra, người vay phải chịu tiền phí từ 05% - 10% của khoản tiền vay cho mỗi lần vay, ví dụ:
- A vay của N 5.000.000 đồng, đóng gốc và lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày đóng 250.000 đồng. N thu tiền phí gói vay là 100.000 đồng, số tiền còn lại của gói vay là 4.900.000 đồng thì N đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản cho người vay.
Số tiền phải đóng sau 25 ngày là: 25ngày x 250.000₫ = 6.250.000đồng.
Số tiền lãi nhận được là: 6.250.000₫ – 5.000.000₫ - 1.250.000 đồng.
Lãi suất năm là: (1.250.000₫/5.000.000₫) x 365 ngày x 100% / 25 ngày = 365%
Lãi suất vượt quá so với lãi suất của Nhà nước cho phép là: 365%: 20% = 18.25 lần.
Bằng cách thức như trên, từ tháng 7/2023 đến tháng 01/2024, Nguyễn Thị Thanh N đã cho nhiều người dân trên địa bàn thành phố B vay tiền với lãi suất cao, cụ thể như sau:
-
Chị Nguyễn Thị V (sinh năm 1983, trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), vay 02 lần:
Lần 1: Khoảng giữa tháng 7/2023, chị V vay của N số tiền 5.000.000đồng (đ), trả trong vòng 25 ngày, mỗi ngày trả 250.000₫, lãi suất tương ứng là 365%/năm, gấp 18,25 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 100.000đ. Chị V đã trả đủ 25 ngày cho N với số tiền là 6.250.000₫, trong đó: 5.000.000₫ tiền gốc và 1.250.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 68.493₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 1.250.000₫ + 100.000 đ - 68.493đ = 1.281.507 đồng.
Lần 2: Khoảng đầu tháng 8/2023, chị V vay của N số tiền 5.000.000₫, trả trong vòng 25 ngày, mỗi ngày trả 250.000₫, lãi suất tương ứng là 365%/năm, gấp 18,25 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 100.000đ. Chị V chưa trả khoản tiền gốc và lãi nào cho N, nên chị V còn nợ N tiền gốc là 5.000.000đ. Khoản vay này N đã thu lợi bất chính số tiền 100.000₫.
Tổng số tiền N cho chị V vay là 10.000.000đ, N thu lợi bất chính tổng số tiền 1.381.507₫ và chị V còn nợ lại N số tiền gốc là 5.000.000₫.
-
Chị Đậu Thị H1 (sinh năm 1993, trú tại: Tổ dân phố A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 05 lần:
-
Lần 1: Ngày 09/11/2023, chị H1 vay N số tiền 5.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 300.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 300.000đ. Chị H1 đã trả đủ 21 ngày cho N với số tiền là 6.300.000đ, trong đó: 5.000.000₫ tiền gốc và 1.300.000đ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 57.534₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000₫ + 300.000₫ - 57.534₫ = 1.542.466₫.
-
Lần 2: Ngày 24/11/2023, chị H1 vay N số tiền 5.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 300.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 300.000đ. Chị H1 đã trả đủ 21 ngày cho N với số tiền là 6.300.000₫, trong đó: 5.000.000₫ tiền gốc và 1.300.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 57.534₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000₫ + 300.000₫ - 57.534₫ = 1.542.466₫.
-
Lần 3: Ngày 14/12/2023, chị H1 vay N số tiền 5.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 300.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 300.000đ. Chị H1 đã trả đủ 21 ngày cho N với số tiền là 6.300.000₫, trong đó: 5.000.000₫ tiền gốc và 1.300.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 57.534₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000₫ + 300.000₫ - 57.534₫ = 1.542.466₫.
-
Lần 4: Ngày 30/12/2023, chị H1 vay N số tiền 5.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 300.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 300.000đ. Chị H1 đã trả đủ 21 ngày cho N với số tiền là 6.300.000đ, trong đó: 5.000.000₫ tiền gốc và 1.300.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 57.534₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000₫ + 300.000₫ - 57.534₫ = 1.542.466₫.
-
Lần 5: Ngày 01/01/2024, chị H1 vay N số tiền 5.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 300.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 300.000đ. Chị H1 đã trả đủ 03 ngày cho N với số tiền là 900.000đ, trong đó: 714.286₫ tiền gốc và 185.714đ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 8.219₫), chị H1 còn nợ lại N số tiền gốc là 4.285.714đ, nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 185.714đ + 300.000₫ - 8.219đ = 477.495₫.
Tổng số tiền N cho chị H1 vay là 25.000.000₫, N thu lợi bất chính tổng số tiền 6.647.359₫ và chị H1 còn nợ lại N số tiền gốc là 4.285.714đ.
-
-
Chị Từ Thị Kiều T (sinh năm 1986, trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 07 lần:
-
Lần 1: Ngày 20/7/2023, chị T vay N số tiền 10.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 600.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 500.000đ. Chị T đã trả đủ 21 ngày cho N với số tiền là 12.600.000₫, trong đó: 10.000.000₫ tiền gốc và 2.600.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 115.068₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000₫ + 500.000₫ - 115.068₫ = 2.984.932₫.
-
Lần 2: Ngày 25/7/2023, chị T vay N số tiền 10.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 600.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 500.000đ. Chị T đã trả đủ 21 ngày cho N với số tiền là 12.600.000₫, trong đó: 10.000.000₫ tiền gốc và 2.600.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 115.068₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000₫ + 500.000₫ - 115.068₫ = 2.984.932₫.
-
Lần 3: Ngày 07/8/2023, chị T vay N số tiền 10.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 600.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 500.000đ. Chị T đã trả đủ 21 ngày cho N với số tiền là 12.600.000₫, trong đó: 10.000.000₫ tiền gốc và 2.600.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 115.068₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền 2.600.000₫ + 500.000₫ - 115.068₫ = 2.984.932₫.
-
Lần 4: Ngày 12/8/2023, chị T vay N số tiền 10.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 600.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 500.000đ. Chị T đã trả đủ 21 ngày cho N với số tiền là 12.600.000₫, trong đó: 10.000.000₫ tiền gốc và 2.600.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 115.068₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000₫ + 500.000₫ - 115.068₫ = 2.984.932₫.
-
Lần 5: Ngày 19/8/2023, chị T vay N số tiền 10.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 600.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 500.000đ. Chị T đã trả đủ 21 ngày cho N với số tiền là 12.600.000₫, trong đó: 10.000.000₫ tiền gốc và 2.600.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định 115.068₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000₫ + 500.000₫ - 115.068₫ = 2.984.932₫.
-
Lần 6: Ngày 06/9/2023, chị T vay N số tiền 10.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 600.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 500.000đ. Chị T đã trả đủ 14 ngày cho N với số tiền là 8.400.000₫, trong đó 6.666.667₫ tiền gốc và 1.733.333₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 76.712₫), chị T còn nợ lại N số tiền gốc là 3.333.333₫, nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 1.733.333đ + 500.000₫ - 76.712đ = 2.156.621₫.
-
Lần 7: Ngày 28/9/2023, chị T vay N số tiền 10.000.000₫, trả trong vòng 21 ngày, mỗi ngày trả 600.000₫, lãi suất tương ứng là 452%/năm, gấp 22,6 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 500.000đ. Chị T đã trả đủ 03 ngày cho N với số tiền là 1.800.000₫, trong đó 1.428.571₫ tiền gốc và 371.429₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 16.438₫), chị T còn nợ lại N số tiền gốc là 8.571.429₫, nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 371.429đ + 500.000₫ - 16.438đ = 854.990₫.
Tổng số tiền N cho chị T vay là 70.000.000đ, N thu lợi bất chính tổng số tiền 17.936.271₫ và chị T còn nợ lại N tổng số tiền gốc là 11.904.762₫.
-
-
Bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1962, trú tại: Tổ dân phố I, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 03 lần:
-
Lần 1: Ngày 12/8/2023, bà L vay N số tiền 6.000.000₫, trả trong vòng 25 ngày, mỗi ngày trả 300.000₫, lãi suất tương ứng là 365%/năm, gấp 18,25 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N không thu tiền phí. Bà L đã trả đủ 25 ngày cho N với số tiền là 7.500.000₫, trong đó: 6.000.000₫ tiền gốc và 1.500.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 82.192đ), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 1.500.000₫ - 82.192₫ = 1.417.808₫.
-
Lần 2: Ngày 02/10/2023, bà L vay N số tiền 5.000.000₫, trả trong vòng 25 ngày, mỗi ngày trả 250.000₫, lãi suất tương ứng là 365%/năm, gấp 18,25 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N không thu tiền phí. Bà L đã trả đủ 25 ngày cho N với số tiền là 6.250.000₫, trong đó 5.000.000₫ tiền gốc và 1.250.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 68.493₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 1.250.000₫ - 68.493₫ = 1.181.507₫.
-
Lần 3: Ngày 10/11/2023, bà L vay N số tiền 7.000.000₫, trả trong vòng 25 ngày, mỗi ngày trả 350.000₫, lãi suất tương ứng là 263%/năm, gấp 13,14 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N không thu tiền phí. Bà L đã trả đủ 18 ngày cho N với số tiền là 6.300.000₫, trong đó 5.040.000₫ tiền gốc và 1.260.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 69.041₫), bà L còn nợ lại N số tiền gốc là 1.960.000₫, nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 1.260.000₫ - 69.041₫ = 1.190.959₫.
Tổng số tiền N cho bà L vay là 18.000.000đ, N thu lợi bất chính tổng số tiền 3.790.274₫ và bà L còn nợ lại N tổng số tiền gốc là 1.960.000₫.
-
-
Chị Lê Thị Kim P (sinh năm 1989, trú tại: 2 V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 03 lần:
-
Lần 1: Khoảng tháng 9/2023, chị P vay của N số tiền 10.000.000₫, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 400.000₫, lãi suất tương ứng là 243%/năm, gấp 12,17 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N không thu tiền phí. Chị P đã trả đủ 30 ngày cho N với số tiền là 12.000.000₫, trong đó: 10.000.000₫ tiền gốc và 2.000.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 164.384đ), nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 2.000.000đ - 164.384đ = 1.835.616đ.
-
Lần 2: Khoảng tháng 10/2023, chị P vay của N số tiền 10.000.000₫, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 400.000₫, lãi suất tương ứng là 243%/năm, gấp 12,17 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 400.000đ. Chị P đã trả đủ 30 ngày cho N với số tiền là 12.000.000đ, trong đó: 10.000.000₫ tiền gốc và 2.000.000₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 164.384₫), nên N đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000đ + 400.000₫ - 164.384₫ = 2.235.616đ.
-
Lần 3: Khoảng tháng 11/2023, chị P vay của số tiền 10.000.000₫, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 400.000₫, lãi suất tương ứng là 243%/năm, gấp 12,17 lần lãi suất cao nhất theo quy định, N thu phí số tiền 400.000₫. Chị P đã trả đủ 16 ngày cho N với số tiền là 6.400.000₫, trong đó 5.333.333₫ tiền gốc và 1.066.667₫ tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 87.671đ), chị P còn nợ lại N số tiền gốc là 4.666.667₫, nên N đã thu lợi bất chính số tiền: 1.066.667đ + 400.000₫ - 87.671₫ = 1.378.995₫.
Tổng số tiền N cho chị P vay là 30.000.000đ, N thu lợi bất chính tổng số tiền 5.450.227₫ và chị P còn nợ lại N tổng số tiền gốc là 4.666.667đ.
-
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tạm giữ của Nguyễn Thị Thanh N: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số I: 358571079678593, gắn sim 0975620408 và 01 "giấy mượn và vay tiền" đề ngày 18/7/2023 (bản gốc).
Tại bản cáo trạng số: 167/CT-VKS-HS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố Nguyễn Thị Thanh N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã luận tội, phân tích, chứng minh các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự
Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Về dân sự:
- Đề nghị truy thu sung Ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N số tiền 125.182.857đồng (tiền gốc những người vay đã trả) là tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 1.611.507 đồng (tiền lãi theo quy định 20%) là tiền do bị cáo phạm tội mà có
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh N trả lại tổng số tiền 35.205.636 đồng đã thu lợi bất chính của những người vay tiền, cụ thể như sau: Trả cho các chị Nguyễn Thị V số tiền 1.381.507 đồng, chị Đậu Thị H1 số tiền 6.647.359 đồng, chị Từ Thị Kiều T số tiền 17.936.271 đồng, chị Lê Thị Kim P số tiền 5.450.227 đồng và trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 3.790.274 đồng.
- Truy thu của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan (người vay tiền) tổng số tiền là 27.817.143 đồng, là số tiền nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh N để sung ngân sách Nhà nước, cụ thể: Nguyễn Thị V 5.000.000 đồng; Đậu Thị H1 4.285.714 đồng; Từ Thị Kiều T 11.904.762 đồng; Nguyễn Thị L 1.960.000 đồng; Lê Thị Kim P 4.666.667 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra xác định đối với 01 chiếc điện thoại di động nhân hiệu Iphone 6S, số Imei: 358571079678593, gắn sim 0975620408 là tài sản của Nguyễn Thị Thanh N sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với “giấy mượn và vay tiền" đề ngày 18/7/2023, quá trình điều tra xác định: Nguyễn Thị Thanh N cho bà Nguyễn Thị H2, trú tại: Thôn B, xã H, thành phố B, vay số tiền 12.600.000 đồng, hiện bà H2 không có mặt tại địa phương và Cơ quan điều tra chưa làm việc được với bà H2, nên tách ra khỏi nội dung vụ án, tiếp tục xác minh xử lý sau.
Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa tranh luận gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 01/2024, tại địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thông qua giao dịch dân sự, Nguyễn Thị Thanh N đã cho nhiều người dân vay tiền với lãi suất cao gấp từ 12,17 lần đến 22,6 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thì bị phát hiện xử lý. Xác định tổng số tiền Nguyễn Thị Thanh N đã thu lợi bất chính là 35.205.636 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh N theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quản lý nhà nước trong hoạt động tín dụng mà còn mang tính chất bóc lột, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần áp dụng mức hình phạt phù hợp tương ứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục riêng đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.
[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, HĐXX thấy cần thiết xử phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh N một số tiền thích hợp để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[2.4] Về việc khấu trừ một phần thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Bộ luật hình sự: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
[2.5] Trong vụ án này, ngoài những người vay tiền của bị cáo như trên, còn có một số người khác có vay tiền của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch của những người này nên tách ra khỏi nội dung vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau theo quy định của pháp luật.
[2.6] Về dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật dân sự.
-
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh N trả lại tổng số tiền 35.205.636 đồng đã thu lợi bất chính của những người vay tiền, cụ thể như sau: Trả cho các chị Nguyễn Thị V số tiền 1.381.507 đồng, chị Đậu Thị H1 số tiền 6.647.359 đồng, chị Từ Thị Kiều T số tiền 17.936.271 đồng, chị Lê Thị Kim P số tiền 5.450.227 đồng và trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 3.790.274 đồng.
-
Truy thu sung Ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N số tiền 125.182.857đồng (tiền gốc những người vay đã trả) là tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 1.611.507 đồng (tiền lãi theo quy định 20%) là tiền do bị cáo phạm tội mà có.
-
Truy thu của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan (người vay tiền) tổng số tiền là 27.817.143 đồng, là số tiền nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh N để sung ngân sách Nhà nước, cụ thể: Nguyễn Thị V 5.000.000 đồng; Đậu Thị H1 4.285.714 đồng; Từ Thị Kiều T 11.904.762 đồng; Nguyễn Thị L 1.960.000 đồng; Lê Thị Kim P 4.666.667 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhân hiệu Iphone 6S, số Imei: 358571079678593, gắn sim 0975620408 là tài sản của Nguyễn Thị Thanh N sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với “giấy mượn và vay tiền" đề ngày 18/7/2023, quá trình điều tra xác định: Nguyễn Thị Thanh N cho bà Nguyễn Thị H2, trú tại: Thôn B, xã H, thành phố B, vay số tiền 12.600.000 đồng, hiện bà H2 không có mặt tại địa phương và Cơ quan điều tra chưa làm việc được với bà H2, nên tách ra khỏi nội dung vụ án, tiếp tục xác minh xử lý sau.
[2.7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh N 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an T, tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh N cho Ủy ban nhân dân xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh N.
Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự.
- Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Thanh N số tiền 40.000.000 đồng nộp vào Ngân sách Nhà nước.
* Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Về phần xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số I: 358571079678593 (không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong điện thoại)
Đối với “giấy mượn và vay tiền" đề ngày 18/7/2023, quá trình điều tra xác định: Nguyễn Thị Thanh N cho bà Nguyễn Thị H2, trú tại: Thôn B, xã H, thành phố B, vay số tiền 12.600.000 đồng, hiện bà H2 không có mặt tại địa phương và Cơ quan điều tra chưa làm việc được với bà H2, nên tách ra khỏi nội dung vụ án, tiếp tục xác minh xử lý sau.
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột, ngày 05/6/2024).
Về phần dân sự:
-
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh N trả lại tổng số tiền 35.205.636 đồng đã thu lợi bất chính của những người vay tiền, cụ thể như sau: Trả cho các chị Nguyễn Thị V số tiền 1.381.507 đồng, chị Đậu Thị H1 số tiền 6.647.359 đồng, chị Từ Thị Kiều T số tiền 17.936.271 đồng, chị Lê Thị Kim P số tiền 5.450.227 đồng và trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 3.790.274 đồng.
-
Truy thu sung Ngân sách Nhà nước của Nguyễn Thị Thanh N tổng số tiền 125.182.857đồng (tiền gốc những người vay đã trả) là tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 1.611.507 đồng (tiền lãi theo quy định 20%) là tiền do bị cáo phạm tội mà có.
-
Truy thu của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan (người vay tiền) tổng số tiền là 27.817.143 đồng, là số tiền nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh N để sung ngân sách Nhà nước, cụ thể số tiền truy thu của từng người như sau: Nguyễn Thị V 5.000.000 đồng; Đậu Thị H1 4.285.714 đồng; Từ Thị Kiều T 11.904.762 đồng; Nguyễn Thị L 1.960.000 đồng; Lê Thị Kim P 4.666.667 đồng.
*Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án
Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.760.281 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trần Đôn |
Bản án số 185/2024/HS-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự - cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 185/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh N bị xét xử 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ
