Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 185/2025/HSPT

Ngày 28-11-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh

Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương

Bà Lê Thị Hiệu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 228/2025/HSPT ngày 07/10/2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á và đồng bọn, do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 -Thanh Hoá.

Bị cáo kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 25/01/2007 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 8 tháng 10 ngày); Số CCCD: [...]; Giới tính: nữ; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị P; gia đình có 3 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Bị cáo chưa có chồng, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Thị G, sinh ngày 11/3/2007 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 6 tháng 24 ngày); Số CCCD: [...]; Giới tính: nữ; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Khắc M và bà Lê Thị H; gia đình có 3 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Bị cáo chưa có chồng, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  3. Hoàng Thị Huyền T, sinh ngày 07/3/2007 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 6 tháng 28 ngày); CCCD: [...]; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Xuân T1 và bà Lê Thị T2; gia đình có 3 chị em, bị cáo là con đầu; Bị cáo chưa có chồng, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  4. Nguyễn Thị A, sinh ngày 19/5/2008 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 4 tháng 16 ngày). Số CCCD: [...]; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M1; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có chồng, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  5. Vũ Lê T3, sinh ngày 27/10/2007 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 08 ngày); Số CCCD: [...]; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn V và bà Lê Thị T4; gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ 2; Bị cáo chưa có chồng, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  6. Lê Phương D, sinh ngày 23/5/2008 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 4 tháng 12 ngày); Số CCCD: [...]; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tiến C và bà Lê Thị Q; gia đình có 2 chị em, bị cáo là con đầu; Bị cáo chưa có chồng, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á và Nguyễn Thị Huyền T5 là: Ông Lê Khắc H1 - Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 3, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.

  • Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị G: Bà Nguyễn Thị Nữ H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
  • Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thị A, Vũ Lê T3, Lê Phương D là: Bà Nguyễn Thị Ngọc T6 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
  • Các Luật sư bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Nguyễn Thị A, Vũ Lê T3, Nguyễn Thị G Lê Phương D là: Trần Quốc H3 và Nguyễn Ngọc M2 - Văn phòng Luật sư Trần Quốc H3 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: A Tập thể Bộ C3, H, Đ, Thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Thị G: Ông Nguyễn Khắc M, sinh năm 1976 (là bố đẻ)
  • Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Hoàng Thị Huyền T: Bà Lê Thị T2, sinh năm 1986 (là mẹ đẻ)
  • Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Thị A: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1973 (là bố đẻ)
  • Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Vũ Lê T3: Bà Lê Thị T4, sinh năm 1977 (là mẹ đẻ)
  • Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Phương D: Bà Lê Thị Q, sinh năm 1988 (là mẹ đẻ)
  • Bị hại có kháng cáo: Cháu Lê Vũ Gia N, sinh ngày 20/11/2008
  • Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Lê Văn T7, sinh năm 1978 Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:
    1. Ông Đinh Văn T8 Địa chỉ: Số B thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
    2. Luật sư Nguyễn Văn H4-Công ty L5, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Tầng B Tòa nhà T, khu T, phường Y, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn trước nên Nguyễn Thị H5 ở thôn Y, xã T, tỉnh Thanh Hóa và Lê Thị Phương A1, ở thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa hẹn nhau ra cổng trường THPT N1 để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Đến khoảng 17 giờ ngày 05/10/2024, khi ra cổng trường thì H5 kể với Nguyễn Thị Ngọc Á về việc giữa H5 và Phương A1 có mâu thuẫn. Lúc này tại cổng trường nhóm bạn của Á đang đứng cùng Á gồm: Vũ Lê T3, Hoàng Thị Huyền T, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị A, Lê Phương D. Do đến giờ tan học nên ở cổng trường có đông học sinh, bảo vệ và các thầy cô nên H5 và Phương A1 cùng một nhóm học sinh di chuyển đến nghĩa trang thôn T, xã T. Nhóm bạn đứng cùng Á cũng di chuyển theo. Do bênh vực H5 nên trên đường đi ra cánh đồng xã T thì Á nói với A1 và D là “Em chị mà có bị đánh thì bay vô nhá”, A1 hỏi lại Á “Răng chị không vô”, Á trả lời “Tại tau không mặc áo chống nắng”.

Khi đến nghĩa trang thôn T, xã T, tại đây Á nói với cả nhóm, gồm: Lê Vũ T9, Nguyễn Thị G, Hoàng Thị Huyền T là nếu tí nữa Á và H5 tham gia đánh nhau thì vào đánh cùng Á. Như đi cùng Phương A1 cũng di chuyển đến. Tại đây H5 và Phương A1 đứng cãi nhau, do các bạn học sinh đứng bên ngoài kích động. Trong đó Nguyễn Phương L2 nói “vô đi”, “không phải sợ thầy cô”. Vũ Lê T3 nói “vô đi”, “đẩy hấn vô”. Nguyễn Thị Huyền T5 nói “nháo nhào đi xong mà về này”. Bùi Quốc T10 nói “bay không đánh để con V1 lợn hấn đánh cho này”. Á dùng lời lẽ kích động và dùng tay đẩy H5 về phía Phương A1 nói “vô luôn đi”, H5 dùng tay phải bạt vào tay trái của Phương A1 02 cái thì Phương A1 dùng tay túm tóc H5 rồi cả hai giằng co nhau. Thấy H5 bị Phương A1 túm tóc không thoát ra được nên Á lao vào túm tóc Phương A1, kéo tóc và ghì Phương A1 xuống đường thì số bạn của Nguyễn Thị Ngọc Á cũng lao vào đánh Phương A1; trong đó Nguyễn Thị G dùng mũ bảo hiểm của mình loại mũ bằng nhựa, màu đen đập 01 phát vào đầu và 01 phát vào vai của Phương A1. Nguyễn Thị A dùng mũ bảo hiểm của mình đập một phát về phía người Phương A1. Lê Phương D dùng tay bạt 02 cái vào người Phương A1. Do là bạn và thấy Phương A1 bị nhiều người đánh nên Lê Vũ Gia N vào can ngăn và nói “thôi thôi chị ơi” rồi dùng tay kéo Á ra.

Lúc này Á dùng tay tát vào mặt và túm tóc Như giật xuống, thấy Á đánh Như thì G, A, T5, D không đánh Phương A1 nữa mà quay sang đánh Như. G dùng mũ bảo hiểm đập nhiều phát vào đầu, lưng, gáy của N; T3 dùng tay giật tóc Như một cái ngược về sau; T5 dùng tay túm và giật tóc Như, tát như 2 cái vào cổ và mặt; Anh dùng mũ bảo hiểm đập 02 cái vào lưng của Như, dùng chân phải đá 01 cái vào bụng Như; Á dùng tay kéo quần Như tụt xuống. Bị đánh, N dùng hai tay túm tóc của Á thì Á tiếp tục dùng tay túm và giật tóc Như, cào vào mặt Như, dùng tay tụt quần Như; T5 dùng mũ bảo hiểm đập một phát vào gáy Như, dùng hai tay giật tóc Như; G tiếp tục dùng mũ bảo hiểm đập nhiều cái vào lưng, đầu của N; D dùng tay phải đánh 2 cái vào lưng của N; Anh dùng mũ bảo hiểm đập 02 cái vào lưng của Như, dùng chân phải đạp vào bụng và đạp một cái vào lưng của N; T3 dùng tay kéo tay N ra khỏi người Ánh và dùng răng cắn vào tay Như hai cái.

Sau đó, mọi người can ngăn nên N và Á buông tóc nhau ra thì sự việc dừng lại. Như được bạn Lê Thanh T11 chở về nhà. Đến khoảng 18giờ 30 phút cùng ngày thì ông Lê Văn T7 là bố đẻ của cháu N gọi Như ra ăn cơm nhưng Như không ra và nói với ông T7 lát nữa Như sẽ đi học luôn. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, N đi gặp bạn và khoảng 21 giờ Như về nhà rồi đi ngủ.

Đến sáng ngày 06/10/2024, Như thấy mệt và bị đau ở vùng cổ nên tiếp tục vào phòng nằm, đến chiều tối cùng ngày khi bà Vũ Thị L1 và ông T7 đi làm về gọi Như dậy thì N mới kể lại nội dung Như bị các bạn đánh. Lúc này ông T7 và bà L1 dẫn N đến nhà Nguyễn Thị G và Nguyễn Thị T5 ở xã T để nói chuyện. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì ông T7 và bà L1 đưa N về, sau đó đưa N đến Bệnh viện Đ điều trị. Đến ngày 09/10/2024, Như được đưa đến Bệnh viện V2 điều trị. Đến ngày 15/10/2024 Như được chuyển về Bệnh viện H6 điều trị.

Sau khi tiếp nhận nội dung sự việc, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã khám nghiệm hiện trường

* Tại Biên bản xác định hiện trường hồi 17 giờ 00 phút ngày 14 tháng 10 năm 2024, tại thôn T, xã T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa xác định:

Hiện trường chung: Hiện trường được xác định tại đường liên xã T thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, có phía Bắc hướng đi UBND xã T, phía Nam hướng đi xã T, phía Đông và phía Tây giáp ruộng và khu nghĩa địa. Hai bên đường có hai bờ cỏ.

Lấy cột mốc ký hiệu ĐH-NC02/km1 ở lề cỏ phía Đông đường liên xã làm mốc. Hai lề cỏ bên đường liên xã có cắm các cột mốc bằng bê tông.

Hiện trường cụ thể: Nơi xảy ra vụ việc được xác định tại phía Đông đường liên xã tương ứng vị trí giữa cột mốc thứ 6 và cột mốc thứ 7 tính từ mốc ĐH-NC02/km1 về phía Bắc.

Quá trình xác định hiện trường không phát hiện dấu vết, đồ vật khả nghi nào khác. Tiến hành xem xét dấu vết thân thể cho Lê Vũ Gia N ghi nhận những dấu vết sau:

  • 01 rách da kích thước dài 03 cm tại vị trí cánh mũi dưới mắt trái.
  • 01 rách da kích thước dài 02cm tại vị trí gò má dưới trước đuôi mắt phải.
  • 03 vết rách da không rõ hình dạng tại vị trí gáy.
  • Lốc móng tay ngón số 5 tay trái.
  • 01 vết rách, tụ máu tại ngón số 5 tay phải.

Ngày 15/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa trưng cầu Viện Khoa học hình sự Bộ C3 tiến hành giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với Lê Vũ Gia N.

* Tại Bản kết luận giám định thương tích số 7977/KL-KTHS ngày 22/11/2023 của V3 Bộ C3, kết luận:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể: Đối chiếu Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể như sau:

  • Tổn thương móng tay ngón V bàn tay hai bên, mỗi bên: 01% (áp dụng mục VIII.1, C1 8)
  • Trượt đốt sống C2 ra trước C3 độ 1, không tổn thương thần kinh: 21% (áp dụng Mục XII.6.1, Chương 7)

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Lê Vũ Gia N tại thời điểm giám định là 23% (Hai mươi ba phần trăm).

Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương trên cơ thể của cháu Lê Vũ Gia N do vật tày gây nên.

Ngày 25/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa trưng cầu giám định 01 USB màu trắng bạc loại TOSHIBA dung lượng 8GB chứa Video nội dung diễn biến vụ Cố ý gây thương tích xảy ra ngày 05/10/2024 tại thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

* Tại Kết luận giám định số 4725/KL-KTHS ngày 13/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sữa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 tệp video của 01 USB gửi giám định.

  • Trích xuất 10 ảnh từ các tệp video gửi giám định - Thể hiện trong Phụ lục.
  • Không xác định được đối tượng nào đánh vào đốt sống C2 của cháu N.

* Tiến hành xem xét thân thể đối với Nguyễn Thị Ngọc Á có các thương tích:

  • 01 (một) Vết xước da không rõ hình dạng tại vị trí đầu gối phải.
  • 02 (hai) vết xước da không rõ hình dạng tại vị trí mu bàn chân phải.
  • 01 (một) Vết thâm, bầm tím KT(02x02) cm không rõ hình dạng tại vị trí đầu gối chân trái.

Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á khai báo, vào ngày 05/10/2024 khi vào can ngăn H5 và Phương A1 đánh nhau, Á đã giằng co, tát vào người của Như, khi đó Á bị ngã và gây ra các thương tích trên. Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa không tiến hành giám định đối với các thương tích của Nguyễn Thị Ngọc Á.

* Tiến hành xem xét dấu vết thân thể đối với Hoàng Thị Huyền T; Nguyễn Thị H5, Lê Thị Phương A1, Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị G không phát hiện dấu vết thương tích nào.

Ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Phương L2, Bùi Quốc T10 về việc xúi giục người khác gây thương tích và Nguyễn Thị H5, Lê Thị Phương A1 về hành vi cố ý gây thương tích.

Về phần dân sự: Trong giai đoạn điều tra, ông Lê Văn T7 đại diện cho bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường các chi phí là 125.141.592 đồng chưa bao gồm tiền tổn thất tinh thần và sức khỏe. Quá trình điều tra các bị cáo cùng gia đình đã đến gia đình cháu Lê Vũ Gia N để bồi thường, tuy nhiên gia đình cháu N không nhận nên các bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện nộp số tiền 85.000.000 đồng bồi thường dân sự tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thanh Hóa đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Nguyễn Thị A, Hoàng Thị Huyền T, Nguyễn Thị G, Lê Phương D và Vũ Lê T3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về điều luật áp dụng:

2.1. Đối với Nguyễn Thị Ngọc Á: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

2.2. Đối với Nguyễn Thị G; Hoàng Thị Huyền T; Nguyễn Thị A và Lê Phương D: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

2.3. Đối với Vũ Lê T3: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

3. Về hình phạt:

3.1. Xử phạt Nguyễn Thị Ngọc Á 19 (Mười chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025).

3.2. Xử phạt Nguyễn Thị G 17 (mười bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 34 (Ba mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025).

3.3. Xử phạt Nguyễn Thị A 17 (Mười bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 34 (Ba mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025).

3.4. Xử phạt Hoàng Thị Huyền T 17 (Mười bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 34 (Ba mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025).

3.5. Xử phạt Lê Phương D 16 (Mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025)

3.6. Xử phạt Vũ Lê T3 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025).

3.7. Giao các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á và Vũ Lê T3 cho UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

3.8. Giao các bị cáo Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị A, Hoàng Thị Huyền T và Lê Phương D cho UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự.

Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á; Nguyễn Thị A; Hoàng Thị Huyền T; Nguyễn Thị G; Lê Phương D; Vũ Lê T3 phải liên đới bồi thường cho bị hại Lê Vũ Gia N, gồm các khoản sau:

  • Tiền viện phí và thuốc điều trị: 23.679.674 đồng.
  • Tiền thuê phương tiện và tiền vé xe đi khám, điều trị tại các bệnh viện: 8.985.000 đồng.
  • Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho cháu N trong thời gian điều trị tại Bệnh viện V2 là: 165.333 đồng x 7 ngày = 1.157.331 đồng.
  • Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho cháu N trong thời gian điều trị tại Bệnh viện H6 là: 147.000 đồng x 10 ngày = 1.470.000 đồng.
  • Công người chăm sóc:
    • C2 thu nhập bị mất của ông Lê Văn T7 là: 461.538 đồng x 11 ngày = 5.076.918 đồng.
    • C2 thu nhập bị mất của bà Vũ Thị L1 là: 290.000 đồng x 84 ngày = 24.360.000₫.
  • Bồi thường tổn thất về tinh thần: Bằng 20 lần mức lương tối thiểu là: 2.340.000₫ x 20 = 46.800.000₫.

Tổng số tiền phải bồi thường là: 111.528.923 đồng (Một trăm mười một triệu năm trăm hai mươi tám nghìn chín trăm hai mươi ba đồng). Chia theo phần, mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại Lê Vũ Gia N số tiền là: 18.588.154₫ (Mười tám triệu năm trăm tám mươi tám nghìn một trăm năm mươi bốn đồng) nhưng được trừ đi số tiền mà các bị cáo đã tự nguyện nộp bồi thường tại Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là Phòng THADS khu vực 2 – Thanh Hóa) các bị cáo còn phải bồi thường số tiền là:

  • Nguyễn Thị A đã bồi thường 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002895 ngày 22/4/2025 của Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo còn phải bồi thường số tiền 8.588.154₫ (Tám triệu năm trăm tám mươi tám nghìn một trăm năm mươi bốn đồng);
  • Lê Phương D đã bồi thường 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002896 ngày 22/4/2025 của Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo còn phải bồi thường số tiền 8.588.154đ (Tám triệu năm trăm tám mươi tám nghìn một trăm năm mươi bốn đồng);
  • Hoàng Thị Huyền T đã bồi thường 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002894 ngày 14/4/2025 của Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo còn phải bồi thường số tiền 3.588.154 đ (Ba triệu năm trăm tám mươi tám nghìn một trăm năm mươi bốn đồng);
  • Nguyễn Thị Ngọc Á đã bồi thường 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002893 ngày 14/4/2025 của Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo còn phải bồi thường số tiền 3.588.154₫ (Ba triệu năm trăm tám mươi tám nghìn một trăm năm mươi bốn đồng);
  • Nguyễn Thị G đã bồi thường 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002892 ngày 14/4/2025 của Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo còn phải bồi thường số tiền 3.588.154₫ (Ba triệu năm trăm tám mươi tám nghìn một trăm năm mươi bốn đồng);
  • Vũ Lê T3 đã bồi thường 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002890 ngày 11/4/2025 của Chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa và bồi thường toàn bộ số tiền trên cho bị hại, vì vậy không phải bồi thường tiếp.

Án sơ thẩm còn quyết định về tang vật trong vụ án, nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại.

* Sau khi xét xử sơ thẩm,

Các bị cáo Hoàng Thị Huyền T và Vũ Lê T3 làm đơn kháng cáo bản án với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị A và Lê Phương D xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm cho trình chiếu tại phiên tòa Video quá trình các bị cáo đánh gây thương tích cho cháu Lê Vũ Gia N và đề nghị không cho 06 bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo công nhận hành vi phạm tội như quyết định của cấp sơ thẩm đối với bị cáo là đúng. Các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì tại giai đoạn đoạn phúc thẩm, các bị cáo có thêm các tình tiết giảm nhẹ mới.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại về việc không cho các bị cáo được hưởng án treo.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 -Thanh Hoá.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo và Người đại diện hợp pháp cho bị hại nộp trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/10/2024, tại khu vực gần nghĩa trang thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị A, Hoàng Thị Huyền T, Vũ Lê T3 và Lê Phương D (đều đang là học sinh trung học phổ thông và là người chưa đủ 18 tuổi) đã có hành vi dùng tay, chân, mũ bảo hiểm đánh gây thương tích cho cháu Lê Vũ Gia N sinh ngày 20/11/2008 (15 tuổi 10 tháng 15 ngày). Nguyễn Thị Ngọc Á có hành vi dùng tay giật tóc, cào vào mặt, dùng tay tụt quần cháu N; Nguyễn Thị G dùng mũ bảo hiểm đập nhiều cái vào đầu, lưng, gáy cháu N; Nguyễn Thị A dùng mũ bảo hiểm đập 02 cái vào lưng, dùng chân phải đá 01 cái vào bụng cháu N; Hoàng Thị Huyền T dùng tay giật tóc, tát 02 cái vào cổ và mặt cháu N; Vũ Lê T3 dùng tay kéo, dùng răng cắn hai cái vào tay cháu N; Lê Phương D dùng tay phải bạt hai cái vào lưng của cháu N.

Hậu quả cháu Lê Vũ Gia N tổn thương móng ngón tay V bàn tay hai bên; trượt đốt sống C2 ra trước C3 độ 1 dẫn đến bị tổn thương cơ thể 23% (Hai mươi ba phần trăm).

Với hành vi trên, cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người đúng tội.

Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại về đề nghị cấp phúc thẩm cho trình chiếu tại phiên tòa Video quá trình các bị cáo đánh gây thương tích cho cháu Lê Vũ Gia N thấy:

Theo quy định tại Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự thì HĐXX chỉ được công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố khi thuộc một trong các trường hợp: “Lời khai người được xét hỏi tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố; người được xét hỏi không khai tại phiên tòa hoặc không nhớ lời khai của mình; người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết hoặc người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ... Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu của người tham gia tố tụng hoặc tự xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử không công bố tài liệu có trong hồ sơ vụ án”.

Trong vụ án này, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên HĐXX không cần thiết phải công bố các tài liệu theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại. Do đó không chấp nhận phần kháng cáo này.

Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo gồm:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã nộp một phần bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài những tình tiết giảm nhẹ trên, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á có ông ngoại là thương binh và là người tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Vũ Lê T3 trong quá trình học tập luôn đạt thành tích xuất sắc và đạt danh hiệu học sinh giỏi thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ mới: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo đã tự nguyện nộp hết số tiền còn phải bồi thường theo quyết định của bản án sơ thẩm tại Cơ quan Thi hành án. Số tiền các bị cáo nộp theo phiếu thu tiền nhiều hơn số tiền đã tuyên trong quyết định nhưng các bị cáo tự nguyện bồi thường hết, không yêu cầu phải trả lại nên ghi nhận sự tự nguyện này.

Ngoài ra, bị cáo Vũ Lê T3 có bà nội là Cao Thị T12, ông nội là Vũ Văn L3 là người có công với cách mạng, được tưởng tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Bị cáo Lê Phương D được Trường THPT N1 có đơn đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo D để bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập, hoàn thiện bản thân, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, HĐXX nhận thấy: Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây tổn thương cơ thể của bị hại là 23% sức khoẻ, cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt đối với các bị cáo với mức từ 15 tháng đến 19 tháng tù cho hưởng án treo là phù hợp. Do đó không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo.

Về kháng cáo không cho các bị cáo được hưởng án treo của người đại diện hợp pháp của bị hại thấy:

Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng đối với các bị cáo là “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. HĐXX nhận thấy: Các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự do “gây thương tích từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a đến k khoản 1 điều này”. Tại điểm c khoản 1 điều này đã quy định “đối với người dưới 16 tuổi”. Do đó không chấp nhận đề nghị của người đại diện hợp pháp của bị hại về áp dụng tình tiết tăng nặng đối với các bị cáo.

Về hình phạt cho hưởng án treo: Các bị cáo khi phạm tội đều là học sinh, là người chưa đủ 18 tuổi, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Do đó cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo để quyết định hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi cư trú cũng đủ sức giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật và cũng tạo điều kiện cho các bị cáo được tiếp tục học tập.

Do đó không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà là có căn cứ.

[3] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí phúc thẩm: Bị cáo và bị hại kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Nguyễn Thị A, Hoàng Thị Huyền T, Nguyễn Thị G, Lê Phương D và Vũ Lê T3.

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 -Thanh Hoá.

[2] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á; Nguyễn Thị A; Hoàng Thị Huyền T; Nguyễn Thị G; Lê Phương D; Vũ Lê T3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với Nguyễn Thị Ngọc Á.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với Nguyễn Thị G; Hoàng Thị Huyền T; Nguyễn Thị A và Lê Phương D.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s,v khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 4 Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với Vũ Lê T3.

Xử phạt:

  1. Nguyễn Thị Ngọc Á 19 (Mười chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025).
  2. Nguyễn Thị G 17 (mười bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 34 (Ba mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025).
  3. Nguyễn Thị A 17 (Mười bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 34 (Ba mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025).
  4. Hoàng Thị Huyền T 17 (Mười bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 34 (Ba mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025).
  5. Lê Phương D 16 (Mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025)
  6. Vũ Lê T3 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/8/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á và Vũ Lê T3 cho UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Giao các bị cáo Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị A, Hoàng Thị Huyền T và Lê Phương D cho UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Về bồi thường dân sự: Công nhận các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, Vũ Lê T3, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị A, Hoàng Thị Huyền T và Lê Phương D đã bồi thường xong cho bị hại Lê Vũ Gia N.

Chị Lê Vũ Gia N hoặc người đại diện hợp pháp được nhận lại số tiền các bị cáo đã bồi thường tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá gồm:

  • Số tiền 9.217.554₫ theo Biên lai thu tiền số 000208 ngày 08/9/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá do Nguyễn Thị A nộp.
  • Số tiền 9.217.554₫ theo Biên lai thu tiền số 000207 ngày 08/9/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá do Lê Phương D nộp.
  • Số tiền 3.800.000đ theo Biên lai thu tiền số 000180 ngày 03/9/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá do Hoàng Thị Huyền T nộp.
  • Số tiền 3.900.000đ theo Biên lai thu tiền số 000179 ngày 03/9/2025 và 188.154₫ theo Biên lai thu tiền số 000255 ngày 12/9/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá do Nguyễn Thị Ngọc Á nộp.
  • Số tiền 3.800.000đ theo Biên lai thu tiền số 000181 ngày 03/9/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá do Nguyễn Thị G nộp.

[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14.

Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á; Nguyễn Thị A; Hoàng Thị Huyền T; Nguyễn Thị G; Lê Phương D; Vũ Lê T3, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Ông Lê Văn T7 (người đại diện hợp pháp của bị hại) phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi gửi:

  • - P7 VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND KV 2;
  • - VKSND KV 2;
  • - THADS khu vực 2- Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - L4.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Đã ký

Trương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2025/HSPT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự (cố ý gây thương tích) - phúc thẩm

  • Số bản án: 185/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích) - Phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của TAND khu vực 2 Thanh Hoá
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger