Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 185/2025/HC-ST

Ngày 20-11-2025

“V/v khiếu kiện quyết định xử phạt vi

phạm hành chính”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hải Âu
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Bùi Xuân Vấn
Bà Đỗ Thị Hà
Thư ký phiên tòa:Ông Bùi Xuân Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Dương Phúc Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng – Cơ sở 02 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 12/2025/TLST-HC ngày 14 tháng 01 năm 2025 về “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2025/QĐXXST-HC ngày 06-10-2025, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Bà Trần Thị T sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (nay là thôn A, xã T, tỉnh Lâm Đồng) - Có mặt.
  2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lâm Đồng); địa chỉ: Bon Jâng P, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
  3. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân T1; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lâm Đồng - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Hữu T2; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (nay là thôn A, xã T, tỉnh Lâm Đồng) - Có mặt.
    2. Ông Trần Văn T3; địa chỉ: Xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện của bà Trần Thị T trình bày: Ngày 26/7/2004, bà Trần Thị T và ông Nguyễn Hữu T2 có nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn T3 trú tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước một thửa đất có diện tích 2,5ha tại thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đất do ông M khai hoang chuyển nhượng cho ông T3, sau đó ông T3 chuyển nhượng cho vợ chồng ông bà. Khi nhận chuyển nhượng,đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên chỉ lập hợp đồng viết tay với nhau, không có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các bên đã thực hiện nghĩa trả tiền và giao nhận thực địa. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông bà đã trồng mỳ, điều, cao su và có làm nhà trên đất. Đến năm 2010 thì bị UBND xã T xử phạt hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ-XPHC UBND xã T. Ngày 28/6/2010 UBND xã T ban hành Quyết định số 24/QĐ-UBND “Về việc cưỡng chế Quyết định xử phạt hành chính” đối với ông bà. Năm 2023, ông bà tiếp tục dựng một căn nhà 50m² trên đất. Ngày 19/12/2023, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 2538/QĐ-UBND xử phạt hành chính đối với bà T về hành vi chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn để xây dựng công trình nhà tạm tại các tọa độ 407462-1342779; 407468-1342779 số tiền xử phạt là 2.500.000 đồng. Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc bà T khôi phục lại hiện trạng ban đầu của thửa đất và trả lại đất lấn chiếm. Trước khi người vi phạm trả lại đất lấn chiếm, ngày 26/7/2024 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 2146/QĐ-CCXP về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, theo đó tại khoản 3,4 của Quyết định nêu “Buộc bà Trần Thị T phải trả lại đất lấn chiếm” ngoài ra bà T phải trả chi phí cưỡng chế và chi phí phát sinh khác. Không đồng ý với các Quyết định nêu trên ngày 13/8/2024, bà T đã khiếu nại đến UBND huyện Đ và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ giải quyết khiếu nại tại Quyết định số 3267/QĐ UBND ngày 29/11/2024. Bà T không đồng ý với các Quyết định trên nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy các Quyết định:

  • Quyết định số 2146/QĐ-CCXP ngày 26/7/2024 của Chủ tịch UBND huyện Đ.
  • Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 3267/QĐ-UBND ngày 29/11/2024 của Chủ tịch UBND huyện Đ.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2538/QĐ-UBND ngày 19/12/2023 của chủ tịch UBND huyện Đ.

2. Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện trình bày: Ngày 12/12/2023, UBND xã T lập Biên bản vi phạm hành chính số 23/BB-VPHC đối với bà T, trú tại: Thôn A. Xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Ngày 19/12/2023, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 2538/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà T với hành vi vi phạm hành chính: Lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn với tổng diện tích vi phạm là 50m², vị trí: Thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Ngày 13/12/2023, UBND xã T có Báo cáo số 459/BC-UBND về việc chuyển hồ sơ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà T, tại thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Ngày 26/7/2024, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 2146/QĐ-KPHQ Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà T với hành vi vi phạm hành chính: “Lấn chiếm đất chưa sử dụng để xây dựng công trình”. Kết cấu: Khung sắt vuông, mái lợp tôn, tường tôn, nền gạch đất với diện tích vi phạm 50m² tại các điểm tọa độ 407462-1342779; 407468-1342779; tại khoảnh 5, tiểu khu A xã T. Như vậy, việc UBND huyện Đ ban hành Quyết định số2146/QĐ-CCXP, về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà T là đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  1. Ông Nguyễn Hữu T2: Thống nhất ý kiến với bà Trần Thị T, yêu cầu Tòa án tuyên hủy các Quyết định:
    • Quyết định số 2146/QĐ-CCXP ngày 26-7-2024 của chủ tịch UBND huyện Đ.
    • Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 3267/QĐ-UBND ngày 29-11-2024 của Chủ tịch UBND huyện Đ.
    • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2538/QĐ-UBND ngày 19-12-2023 của chủ tịch UBND huyện Đ.
  2. Ông Trần Văn T3: Ngày 19-10-2004 ông Phạm Văn M có nhượng lại cho ông một thửa đất khoảng 2.5ha tại thôn G, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Ngày 27-12-2004 đã chuyển nhượng lại cho gia đình bà T. Hai bên thỏa thuận và ông T3 đã giao toàn bộ giấy tờ đất cho vợ chồng bà T, có giấy viết tay giữa các bên để vợ chồng bà T tiếp tục canh tác trên mảnh đất đó, với giá thỏa thuận của hai bên và không có tranh chấp. Đề nghị Tòa án xét xử theo đúng quy định.

3. Tại phiên tòa: Bà Trần Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm: Thẩm phán, thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng Hành chính; Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chấp hành tốt quy định của Luật tố tụng Hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 19/12/2023 UBND huyện Đ cũ ban hành Quyết định số: 2538/QĐ-UBND, ngày 26/7/2024 Ban hành Quyết định số 2146/QĐ-UBND; ngày 29/11/2024 ban hành Quyết định số 3267/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Trần Thị T - (lần đầu). Ngày 25/12/2024 bà T khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định nêu trên là còn thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc:

  • Hủy Quyết định số 2146/QĐ-CCXP ngày 26/7/2024 của chủ tịch UBND huyện Đ.
  • Hủy Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 3267/QĐ-UBND ngày 29/11/2024 của Chủ tịch UBND huyện Đ.
  • Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2538/QĐ-UBND ngày 19/12/2023 của Chủ tịch UBND huyện Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thời hiệu khởi kiện: Bà Trần Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án được thụ lý trước ngày 30/6/2025 (trước sáp nhập), Căn cứ theo khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng tiếp nhận nhiệm vụ của các Tòa án nhân dân; Công văn số 285/TANDTC-PC ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ, thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

[2]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[2.1]. Xét yêu cầu tuyên hủy Đối với Quyết định 2538/QĐ-XPHC ngày 19/12/2023: Diện tích đất 50m² bà Trần Thị T có hành vi chiếm đất và bị xử phạt vi phạm hành chính có tọa độ 407462, 1342779, 407468, 1342779 thuộc khoảnh 5, tiểu khu A tọa lạc tại thôn A, xã T. Trước đây đất thuộc quyền quản lý của công ty TNHH MTV L, đã giao cho Ủy ban nhân dân huyện Đ quản lý tại quyết định số 364/QĐ-UBND ngày 02/2/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ; Ủy ban nhân huyện Đ giao đất thu hồi của Công ty TNHH MTV L cho UBND xã T quản lý theo Quyết định số 1227/QĐ-UBND ngày 05/9/2017 của UBND huyện Đ.

Ngày 12/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai đối với bà T do bà T có hành vi chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn do UBND xã quản lý để xây dựng công trình nhà tạm. Hành vi của bà T thuộc trường hợp chiếm đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định số: 91/2019/NĐ-CP ngày 19-11-2019 của Chính phủ quy định: “Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn thì hình thức xử phạt như sau:

a/ Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 hec ta”.

Việc UBND xã T lập biên bản vi phạm hành chính số: 23/BB-VPHC ngày 12/12/2023 đối với bà Trần Thị T về hành vi chiếm đất là đúng pháp luật.

[2.2]. Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Ngày 12-12-2023, UBND xã T lập biên bản vi phạm hành chính đối với bà T. Ngày 19/12/2023, Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 2538/QĐ-XPHC về việc xử phạt hành chính đối với bà T là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính “a. 02 năm đối với vi phạm hành chính đất đai” và trong thời hạn ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật Xử lý vi phạm hành chính số: 67/2020/QH14 ngày 13-11-2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, cụ thể: “Vụ việc thuộc trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính”.

Sau khi nhận được Quyết định số 2538/QĐ-XPHC, bà T nộp phạt 2.500.000 đồng nhưng không thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Ngày 26/7/2024, chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 2146/QĐ-UBND về Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đúng theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 14 Nghị Định 91 và các Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 35 Nghị Định 123/2024/NĐ-CP ngày 01.10.2024 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Không đồng ý với việc chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định 2538/QĐ-XPHC và Quyết định số 2146/QĐ-UBND, ngày 15/8/2024 bà Trần Thị T khiếu nại đến UBND huyện Đ. Ngày 29/11/2024 chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 3267/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Trần Thị T là vẫn đảm bảo thời hạn khiếu nại và giải quyết khiếu nại theo Điều 9; Điều 28 Luật Khiếu nại 2011, sửa đổi bổ sung năm 2021.

[2.3]. Về thẩm quyền ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả:

Điểm b; đ khoản 2 Điều 38 Nghị định số: 91/2019/NĐ-CP ngày 19-11-2019 của Chính phủ, được sửa đổi tại Nghị định số: 04/2022/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2022 quy định: “2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền:

b) Phạt tiền đến 100.000.000 đồng;

...

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này.”

Do đó, Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành các Quyết định số: 2538/QĐ-XPHC; Quyết định số 2146/QĐ-UBND, ngày 15/8/2024 và Quyết định số 3276/QĐ-UBND là đúng quy định tại Điểu 38 Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019; Điều 18 Luật Khiếu nại.

Xét thấy: Quyết định 2358/QĐ-XPHC ban hành là đúng quy định pháp luật. Nên có cơ sở chấp nhận Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2146/QĐ-CCXP ngày 26-07-2024 của chủ tịch UBND huyện Đ và Quyết định 3267/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện Đ.

Từ cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của bà Trần Thị T.

[3]. Xét quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), bà Trần Thị T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, khấu trừ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) bà T đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Tòa án hoàn trả lại cho bà T 7.600.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).

[5]. Do bà Trần Thị T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí Hành chính sơ thẩm cho bà Trần Thị T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính; điểm a khoản 7 Điều 14; Điều 38 Nghị Định 91 và các Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 35 Nghị Định 123/2024/NĐ-CP ngày 01.10.2024 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc hủy các Quyết định:

  1. Quyết định số 2146/QĐ-CCXP ngày 26-7-2024 của chủ tịch UBND huyện Đ.
  2. Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 3267/QĐ-UBND ngày 29-11-2024 của Chủ tịch UBND huyện Đ.
  3. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2538/QĐ-UBND ngày 19-12-2023 của chủ tịch UBND huyện Đ.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), khấu trừ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) bà T đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Tòa án hoàn trả lại cho bà T 7.600.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).

2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí Hành chính sơ thẩm cho bà Trần Thị T.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - UBND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tổ thụ lý; Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Thị Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2025/HC-ST ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính

  • Số bản án: 185/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Ng bị UBND huyện Đăk Song xử phạt vi phạm hành chính
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger