Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2025/HC-PT

Ngày: 19/3/2025

V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính,

yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định

hành chính gây ra”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khánh;

Các Thẩm phán: Ông Thái Duy Nhiệm;

Bà Lê Thị Mai.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Thắng, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 658/2024/TLPT-HC ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính, yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính gây ra”, do có kháng cáo của người khởi kiện ông Thân Đức T đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2024/HC-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1710/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  • * Người khởi kiện: Ông Thân Đức T, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; có mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Số nhà R, khu đô thị Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
  • Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Thị Hồng G – Chi nhánh Công ty L, Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
  • * Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang: Ông Hoàng Văn T2; vắng mặt.
  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang; địa chỉ: Tổ dân phố số B, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Cao N, chức vụ: Trưởng Công an huyện Y; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện ông Thân Đức T trình bày: Vào tháng 02/2023, gia đình ông Lương Văn T3, thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có một phần đất đồi phía sau nhà bị sạt lở xuống phần lối đi sau nhà. Phần đất đồi này đã được gia đình ông T3 sử dụng từ lâu. Do đất sạt lở làm cản trở lối đi và làm bẩn nhà mỗi khi trời mưa nên ông T3 có nhu cầu thu dọn phần đất sạt lở đi, để đảm bảo việc đi lại và vệ sinh. Ông đã xin số đất này của ông T3, dùng ô tô tải chở đất để đổ vào vườn nhà của bà Lương Thị M để cải tạo trồng cây. Khoảng 17h30, ngày 18/2/2023, khi ông đang xúc đất sau nhà ông T3 thì Công an huyện Y tới lập Biên bản số 09/BB-VPHC và ra Quyết định tạm giữ của ông 0 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu WAW màu xanh lam, biển kiểm soát 98H-010.00 và 01 (một) máy xúc nhãn hiệu HITACHI PC35 màu vàng đen, có số seri HCM1MF 00CD0030198.

Ngày 29/3/2023, ông đã nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Y xử phạt vi phạm hành chính đối với ông về hành vi “...khai thác khoáng sản (trừ cát, sỏi lòng sông, suối, hồ) làm vật liệu xây dựng thông thường không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp mà không có giấy phép khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền...”.

Hình thức xử phạt hành chính là phạt số tiền 2.000.000 đồng và tịch thu toàn bộ tang vật, trong đó bao gồm 01 (một) ô tô tải nhãn hiệu WAW có BKS: 98H-010.00 và 01 (một) máy xúc nhãn hiệu Hitachi 35, đồng thời thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Ngày 03/4/2023, ông đã nộp phạt và thực hiện nghĩa vụ khắc phục hậu quả theo nội dung Quyết định số 980/QĐ-XPHC nói trên.

Sau khi xem xét lại hành vi của mình, xem xét kỹ Biên bản vi phạm hành chính số 09/BB-VPHC ngày 31/3/2023 của Công an huyện Y và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y, ông đã tìm hiểu các quy định của pháp luật có liên quan, ông nhận thấy Biên bản vi phạm hành chính và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC có những nội dung chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Ngày 05/6/2023, ông đã có đơn đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Y xem xét lại Quyết định số 980/QĐ-XPHC nói trên.

Ngày 09/9/2023, ông đã nhận được Văn bản trả lời số 1970/UBND-TNKS ngày 07/9/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Y có nội dung giữ nguyên Quyết định số 980/QĐ-XPHC do hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với ông Thân Đức T do Công an huyện Y lập đảm bảo về trình tự, thủ tục, áp dụng xử phạt vi phạm hành chính đúng quy định của pháp luật.

Nay, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang:

  • Hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y.
  • Yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Y bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 313.500.000 đồng, do ông T bị mất thu nhập trong suốt thời gian bị tịch thu xe ô tô và máy xúc.

Người bị kiện là Chủ tịch UBND huyện Y - ông Hoàng Văn T2 trình bày:

  • Về hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với ông Thân Đức T, sinh năm 1976, trú tại thôn B, xã T, huyện Y:
  • Hành vi vi phạm khai thác khoáng sản (trừ cát, sỏi lòng sông, suối, hồ) làm vật liệu xây dựng thông thường, không sử dụng vật liệu nổ mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cụ thể: khai thác đất tại thửa đất 19, tờ bản đồ số 3, thôn B, xã T, huyện Y.

  • Về thời hạn lập Biên bản vi phạm hành chính:
  • Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Nghị định số 118/NĐ-CP của Chính phủ quy định: “Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan, thì biên bản vi phạm hành chính được lập trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày xác định được đối tượng vi phạm bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc nhận được kết quả xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan”.

    Ngày 18/02/2023, Công an huyện Y đã thiết lập Biên bản kiểm tra hoạt động khai thác đất của ông Thân Đức T. Do phải xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và xác minh tình tiết liên quan để xác định thẩm quyền để ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, ngày 20/3/2023, Hội đồng xác định giá Công an huyện Y đã xác định được giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thể hiện tại Biên bản số 08/BB-XĐG nên ngày 21/3/2023 Công an huyện Y đã thiết lập Biên bản vi phạm hành chính số 09/BB-VPHC là đúng thời hạn quy định của pháp luật.

  • Về Biên bản vi phạm hành chính của Công an huyện Y:
  • Việc lập Biên bản vi phạm hành chính là kết quả của quá trình xác minh được thể hiện trong hồ sơ, tài liệu kèm theo hồ sơ xử phạt gồm: Biên bản kiểm tra ngày 18/02/2023; Biên bản xác định hiện trường ngày 20/02/2023; Bản tự khai của ông Thân Đức T ngày 21/02/2023; Biên bản ghi lời khai của ông Thân Đức T trong các ngày 18/02/2023, 23/02/2023, 07/3/2023; Biên bản làm việc của Công an huyện Y với ông Thân Đức T ngày 20/3/2023 và các tài liệu khác có liên quan đến hoạt động khai thác đất của ông Thân Đức T.

  • Về trình tự, thủ tục ban hành Biên bản xử phạt vi phạm hành chính:
  • Ông T cho rằng phần đất mà ông T khai thác không phải là khoáng sản. Nhưng theo khoản 1 Điều 2 Luật khoáng sản năm 2010 quy định: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”.

    Theo khoản 1 Điều 64 Luật khoáng sản quy định về danh mục khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, bao gồm:

    • Cát các loại (trừ cát trắng silic) có hàm lượng SiO2 cát nhỏ hơn 85%, không có hoặc có các khoáng vật cansiterit, volframit, monazit, ziricon, ilmenit, vàng đi kèm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ T5.
    • Đất sét làm gạch, ngói theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam, các loại sét (trừ sét bentonit, sét kaolin) không đủ tiêu chuẩn sản xuất gốm xây dựng, vật liệu chịu lửa samot, xi măng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam.
    • Đá cát kết, đá quarzit có hàm lượng SiO2 nhỏ hơn 85%, không chứa hoặc có chứa các khoáng vật kim loại, kim loại tự sinh, nguyên tố xạ, hiếm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ T5 hoặc không đủ tiêu chuẩn làm đá ốp lát, đá mỹ nghệ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam.

    Căn cứ khoản 5 Điều 2 Luật khoáng sản năm 2010 quy định: “Hoạt động khoáng sản bao gồm hoạt động thăm dò khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản”.

    Tại khoản 2 Điều 64 Luật khoáng sản năm 2010 quy định về tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không phải đề nghị cấp Giấy phép khai thác khoáng sản trong trường hợp:

    • Khai thác trong diện tích đất của dự án đầu tư xây dựng công trình đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc cho phép đầu tư mà sản phẩm khai thác chỉ được sử dụng cho xây dựng công trình đó.
    • Khai thác trong diện tích đất ở thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để xây dựng các công trình của hộ gia đình, cá nhân trong diện tích đó”.

    Theo Công văn số 6368/BTNMT-KSVN ngày 08/8/2023 của Bộ T5 về việc giải đáp thắc mắc của các địa phương cũng đã khẳng định: “Đất san lấp là khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường”.

    Như vậy, theo các quy định trên thì phải xác định đất đồi khai thác đủ điều kiện sử dụng cho san lấp mặt bằng, đắp nền công trình hoặc làm nguyên liệu sản xuất gạch được coi là “khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường”.

    Việc ông T khai thác đất để san lấp được coi là khai thác khoáng sản mà không có giấy phép. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; điểm a khoản 22 Điều 2 Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; tài nguyên nước và khoáng sản; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ, Công an huyện Y đã lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với ông Thân Đức T, sinh năm 1976, trú tại thôn B, xã T, huyện Y.

    Biên bản vi phạm hành chính của Công an huyện Y là đảm bảo về trình tự, thủ tục theo đúng quy định của pháp luật.

    Từ những căn cứ nêu trên cho thấy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, đất đai đối với ông Thân Đức T, thôn B, xã T, huyện Y là đủ căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

    Quan điểm của Chủ tịch UBND huyện Y: đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công an huyện Y do ông Phạm Anh T4 - Phó trưởng Công an huyện Y là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

    Ngày 18/02/2023, Công an huyện Y thiết lập biên bản kiểm tra hoạt động khai thác đất của ông Thân Đức T đã phát hiện: Ông Thân Đức T có hành vi khai thác khoáng sản (đất san lấp) trái phép tại khu vực chân núi Dinh ở thôn B, xã T, huyện Y.

    Do ông T đã vi phạm Điều 47 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.

    Ngày 20/3/2023, Hội đồng xác định giá Công an huyện đã xác định được giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thể hiện tại Biên bản số 08/BB-XĐG. Trong đó, xe ô tô tải có giá là 285.000.000 đồng; máy xúc HITACHI có giá 105.000.000 đồng; đất san lấp với 7,04 m³ có giá 675.840 đồng. Tổng giá trị của tang vật và phương tiện vi phạm hành chính có giá là 390.675.840 đồng.

    Ngày 21/3/2023, Công an huyện Y đã ban hành Biên bản vi phạm hành chính số 09/BB-VPHC là đúng thời hạn theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Nghị định số 118 của Chính phủ và đúng quy định tại Điều 47 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.

    Căn cứ hành vi vi phạm của ông Thân Đức T, ngày 27/3/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Y đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-VPHC đối với ông Thân Đức T là đúng theo quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người khởi kiện là ông Thân Đức T xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc: Yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Y bồi thường thiệt hại số tiền là 313.500.000 đồng do ông T bị mất thu nhập sau khi bị tịch thu các phương tiện. Phần đất đồi mà ông khai thác không phải là khoáng sản. Ông cũng không đề nghị giám định phần đất mà ông đã khai thác đó tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xem có phải là khoáng sản hay không.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2024/HC-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã áp dụng khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32, điểm b khoản 1 Điều 143; khoản 2 Điều 165; Điều 157; Điều 158; Điều 191; Điều 193; Điều 204; Điều 206; khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính; điểm e khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 38, Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 2; Điều 64 Luật khoáng sản năm 2010; Điều 74 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020; Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Thân Đức T về việc: Yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Y hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Thân Đức T về việc: Yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Y bồi thường thiệt hại cho ông T số tiền là 313.500.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2024, người khởi kiện là ông Thân Đức T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông về việc yêu cầu tuyên hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ông Thân Đức T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Thân Đức T, sửa bản án sơ thẩm theo hướng hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ- XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Thân Đức T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Sau khi xét xử sơ thẩm, người khởi kiện ông Thân Đức T có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 204, 205, 206, 209 Luật Tố tụng hành chính nên kháng cáo là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
    2. Tại phiên tòa phúc thẩm, vắng mặt người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tuy nhiên, các đương sự trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy đủ điều kiện để tiếp tục xét xử vụ án.
    3. Về đối tượng khởi kiện, theo đơn khởi kiện nộp ngày 19/3/2024, ông Thân Đức T yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y. Đây là quyết định hành chính ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết định hành chính nêu trên là đối tượng khởi kiện và đã thụ lý, giải quyết trong vụ án là đúng, phù hợp với các quy định tại khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
    4. Về thời hiệu khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc khởi kiện của ông Thân Đức T bảo đảm yêu cầu về thời hiệu là chính xác, phù hợp với quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
  2. Về nội dung: Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Thân Đức T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
    1. Đối với yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y.
      • Về thẩm quyền ban hành Quyết định:
      • Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 đối với ông Thân Đức T là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và điểm c khoản 74 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020.

      • Về thời hạn ban hành Quyết định:
      • Công an huyện Y đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 09/BB-VPHC ngày 21/3/2023 đúng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 (03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan) của Chính phủ.

        Chủ tịch UBND huyện Y đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 980/QĐ-XPHC là đúng quy định tại Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính, (trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập Biên bản vi phạm hành chính).

      • Về căn cứ, trình tự, thủ tục ban hành Quyết định:
      • Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật khoáng sản năm 2010; khoản 1 Điều 64 Luật khoáng sản quy định: Đất đồi, đất san lấp, đất đá bóc là khoáng sản.

        Tại Công văn số 6368/BTNMT-KSVN ngày 08/8/2023 của Bộ T5 về việc trả lời kiến nghị của các địa phương cũng đã khẳng định: Đất san lấp là khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường.

        Như vậy, đối với đất đồi khai thác đủ điều kiện sử dụng cho san lấp mặt bằng, đắp nền công trình hoặc làm nguyên liệu sản xuất gạch là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường.

        Theo khoản 5 Điều 2 Luật khoáng sản năm 2010 quy định: “Hoạt động khoáng sản bao gồm hoạt động thăm dò khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản”.

        Tại khoản 2 Điều 64 Luật khoáng sản năm 2010 quy định về tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không phải đề nghị cấp Giấy phép khai thác khoáng sản trong trường hợp:

        • Khai thác trong diện tích đất của dự án đầu tư xây dựng công trình đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc cho phép đầu tư mà sản phẩm khai thác chỉ được sử dụng cho xây dựng công trình đó.
        • Khai thác trong diện tích đất ở thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để xây dựng các công trình của hộ gia đình, cá nhân trong diện tích đó”.

        Như vậy, việc ông Thân Đức T khai thác đất tại thửa đất 19, tờ bản đồ số 3, thôn B, xã T, huyện Y, sau đó chuyển đất đến khu vực vườn của hộ gia đình bà Lương Thị M để đổ san lấp là hành vi vi phạm khai thác khoáng sản (trừ cát, sỏi lòng sông, suối, hồ) làm vật liệu xây dựng thông thường không sử dụng vật liệu nổ mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

        Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Điểm a khoản 22 Điều 2 Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; tài nguyên nước và khoáng sản; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ, Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính của ông Thân Đức T là đã đảm bảo đúng trình tự, thủ tục đúng theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thân Đức T về việc yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y là có căn cứ.

    2. Đối với Quyết định hành chính liên quan: Công văn số 1970/UBND-TNKS ngày 07/9/2023 về việc giải quyết đơn đề nghị của ông Thân Đức T, thôn B, xã T, huyện Y:
    3. Ngày 05/6/2023, ông Thân Đức T đã có đơn đề nghị yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Y xem xét lại toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023. Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Công văn số 1970/UBND –TNKS ngày 07/9/2023 về việc trả lời đơn của ông Thân Đức T là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 20 Thông tư số 05/2021/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ.

      Như đã phân tích ở trên, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPHC ngày 27/3/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y là hợp pháp. Do đó, Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Công văn số 1970/UBND –TNKS ngày 07/9/2023 về việc giải quyết đơn có nội dung kiến nghị, phản ánh, đề nghị là đúng quy định của pháp luật.

  3. Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Thân Đức T, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
  4. Về án phí: Do không được chấp nhận kháng cáo, ông Thân Đức T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, bác kháng cáo của người khởi kiện ông Thân Đức T; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2024/HC-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
  2. Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ông Thân Đức T phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000087 ngày 08/10/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

*Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Đình Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2025/HC-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính, yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính gây ra

  • Số bản án: 185/2025/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính, yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính gây ra
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính, yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính gây ra
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger