Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2025/DS-PT

Ngày: 24 - 3 - 2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Tâm
Các thẩm phán:Bà Đặng Mai Hoa
Bà Trần Thị Diệp Linh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa:Bà Đinh Thị Thu Hương-Thẩm tra viên chính.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 19 và 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22 /2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DSST-ST, ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân quận HBT, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 38/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH I (IVB);

Trụ sở: Số I N, phường A, quận P, Tp ..

Người đại diện theo pháp luật: ông LIU CHUN-HAO - chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Y, CHIEH- chức vụ: Giám đốc Chi nhánh M. Theo Giấy ủy quyền số 76/2023/UQ-BOE-LED ngày 30/3/2023 của Tổng Giám đốc IVB.

Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Yang C, Giám đốc Chi nhánh M; ông Nguyễn Đức Q, Phó Giám đốc Kinh doanh-Chi nhánh M; ông Nguyễn Hữu X, Phó phòng -Phòng Thu hồi Nợ xấu-Hội sở IVB; ông Phùng Ngọc A, bà Chử Thanh N, Chuyên viên chính-Phòng thu hồi Nợ xấu-Hội sở IVB; ông Đào Công T, Trưởng phòng Thẩm định tín dụng-Chi nhánh M; ông Phạm Minh T1, Chuyên viên phòng Thẩm định tín dụng-Chí nhánh M1; bà Lê Ngọc D, Trưởng phòng Quản lý và Hỗ trợ tín dụng-Chi nhánh M; bà Chu Thị H, Chuyên viên phòng Quản lý và Hỗ trợ tín dụng-Chi nhánh M. (Theo Giấy ủy quyền ngày 14/02/2025). Ông X, ông Ngọc A, bà N, ông T, ông T1, bà H có mặt.

Địa chỉ liên hệ: số H phố H, quận H, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: 1. Ông Trần Quốc T2, sinh năm 1971;

2. Bà Phạm Thị Hồng T3, sinh năm 1975;

Cùng HKTT: số A ngõ C B, tổ C, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T2 và bà T3: Bà Nguyễn Thị Kim A1, sinh năm 1975; Địa chỉ liên hệ: Số B phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 28/02/2024). Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH H2.

Trụ sở: Số H phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ - chức vụ: TGĐ

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Song H1, sinh năm 1979 (Theo Văn bản ủy quyền ngày 10/6/2024). Có mặt.

Do có kháng cáo của bị đơn là ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:

* Trong đơn khởi kiện ngày 30/3/2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là Ngân hàng TNHH I do ông Nguyễn Hữu X - người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngân hàng TNHH I (viết tắt là IVB) cùng ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 đã ký kết hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:

Căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số 112/IVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 10/06/2017; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 1 ngày 18/03/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 2 ngày 27/08/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 3 ngày 28/02/2021; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 4 và phụ đính của phụ lục lần 4 ngày 13/01/2022, Ngân hàng I1 đã cấp cho ông T2 và bà T3 một khoản tín dụng như sau: số tiền 56.242.000.000₫ (Năm sáu tỷ hai trăm bốn hai triệu đồng chẵn); Mục đích vay: mua 34 căn hộ chung cư; Thời hạn vay: 15 năm; Lãi suất: kể từ khi căn hộ được bàn giao, lãi suất là 10,5%/năm, kể từ năm thứ hai trở đi lãi suất được áp dụng bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng (+) biên độ 4%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đối với phần nợ gốc chậm thanh toán; Phạt chậm trả lãi là 10%/năm.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 đã ký hợp đồng thế chấp tài sản là căn hộ chung cư hình thành trong tương lai theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư dự án Hòa Bình G Đà Nẵng số 006/HĐMB/HĐGĐN ngày 12/05/2017 gồm: 1501A diện tích 34m²; 1502A diện tích 52,7m²; 1503A diện tích 48m²; 1504A diện tích 52,7m²; 1505A diện tích 79,5m²; 1506A diện tích 79,5m²; 1507A diện tích 52,7m²; 1511A diện tích 102,5m²; 1514A diện tích 34m²; 1518A diện tích 34m²; 1519A diện tích 52,7m²; 1520A diện tích 79,5m²; 1521A diện tích 79,5m²; 1522A diện tích 52,7m²; 1523A diện tích 48,5m²; 1524A diện tích 52,7m²; 1525A diện tích 34m²; 1601A diện tích 34m²; 1602A diện tích 52,7m²; 1603A diện tích 48,5m²; 1604A diện tích 52,7m²; 1605A diện tích 79,5m²; 1606A diện tích 79,5m²; 1607A diện tích 52,7m²; 1611A diện tích 102,5m²; 1614A diện tích 34m²; 1620A diện tích 79,5m²; 1621A diện tích 79,5m²; 1622A diện tích 52,7m²; 1623A diện tích 48,5m²; 1624A diện tích 52,7m²; 1625A diện tích 34m²; 1701A diện tích 34m²; 1702A diện tích 52,7m²;

Những căn hộ nêu trên, 34 (ba mươi tư) thuộc Dự án Khu phức hợp Hòa Bình Green Đ, đường L, phường N, Quận S, thành phố Đà Nẵng, được xác lập bằng:

  • + Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư dự án Hòa Bình Green Đ số 006/HĐMB/HĐGĐN ngày 12/05/2017;
  • + Thỏa thuận ba bên được ký ba bên giữa Ngân hàng I1 – CN M, Công ty TNHH H2 và Khách hàng ngày 10/06/2017;
  • + Những tài sản trên đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Nhà ở hình thành trong tương lai ngày 10/06/2017, số công chứng 3794 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/06/2017;
  • + Đăng ký giao dịch đảm bảo số 1252096946 ngày 13/06/2017.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nói trên, ông T2 và bà T3 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Mặc dù Ngân hàng đã thông báo bằng văn bản nhắc nhở nhiều lần, nhưng cho đến nay ông T2 và bà T3 vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng. Tạm tính đến ngày 30/03/2023, ông T2 và bà T3 còn nợ Ngân hàng số tiền cụ thể như sau: gốc còn lại: 46.660.376.140đ; Nợ lãi: 13.280.734.025đ; Lãi trên nợ gốc chậm trả: 177.752.055đ; Lãi chậm trả đối với số dư lãi chậm trả: 224.484.953đ. Tổng cộng: 60.343.347.173₫ (Sáu mươi tỷ, ba trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm bốn mươi bảy nghìn, một trăm bảy mươi ba đồng).

Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp và hoạt động kinh doanh của I1, ngân hàng đề nghị Toà án buộc ông T2 và bà T3 phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi nêu trên cho ngân hàng và phải chịu số tiền lãi cùng những chi phí, thiệt hại phát sinh cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ cho Ngân hàng. Trong trường hợp ông T2 và bà T3 không trả được nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi khoản nợ vay.

Nếu sau khi xử lý toàn bộ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả hết nợ, ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho đến khi thanh toán hết toàn bộ nghĩa vụ nợ với Ngân hàng TNHH I. Ngoài ra ngân hàng không yêu cầu, đề nghị gì khác.

* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim A1 trình bày: Bà xác nhận giữa ông T2 và bà T3 có ký với IVB hợp đồng tín dụng số 112/IVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 10/06/2017 và các Phụ lục Hợp đồng tín dụng ngày 18/03/2020; ngày 27/08/2020; ngày 28/02/2021; ngày 13/01/2022, IVB cho ông T2 và bà T3 vay số tiền là 56.242.000.000đ (Năm sáu tỷ hai trăm bốn hai triệu đồng chẵn); Mục đích vay: mua 34 căn hộ chung cư. Nội dung quy định và thỏa thuận trong hợp đồng đúng như lời khai và đơn khởi kiện của ngân hàng.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 đã ký hợp đồng thế chấp tài sản là căn hộ chung cư hình thành trong tương lai theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư dự án Hòa Bình Green Đ số 006/HĐMB/HĐGĐN ngày 12/05/2017 (gồm 34 căn hộ). 34 (ba mươi tư) căn hộ thuộc Dự án Khu phức hợp Hòa Bình Green Đ, đường L, phường N, Quận S, thành phố Đà Nẵng, được xác lập bằng:

  • + Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư dự án Hòa Bình Green Đ số 006/HĐMB/HĐGĐN ngày 12/05/2017;
  • + Thỏa thuận ba bên được ký ba bên giữa Ngân hàng I1 – CN M, Công ty TNHH H2 và Khách hàng ngày 10/06/2017;
  • + Những tài sản trên đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Nhà ở hình thành trong tương lai ngày 10/06/2017 và được đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng ông T2 và bà T3 mới trả cho ngân hàng được một phần nợ gốc và lãi, sau đó do làm ăn khó khăn nên không trả được gốc, lãi cho ngân hàng theo đúng cam kết trong hợp đồng. Ông T2 và bà T3 xác nhận còn nợ Ngân hàng số tiền gốc: 46.660.376.140đ. Ông T2 và bà T3 đề nghị ngân hàng miễn lãi phạt và một phần lãi quá hạn cho ông bà.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm khởi kiện như đã trình bày, yêu cầu ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 phải thanh toán trả ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến ngày xét xử (12/7/2024) là: 69.610.647.448đ, bao gồm nợ gốc: 46.660.376.140đ; lãi trong hạn: 18.904.042.711đ; lãi quá hạn: 1.902.159.107₫; phạt chậm trả lãi: 2.144.069.490đ, Theo hợp đồng tín dụng số 112/IVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 10/06/2017 và các phụ lục hợp đồng kèm theo. Đề nghị HĐXX tiếp tục tính lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo (13/7/2024) cho đến khi ông T2 và bà T3 thực hiện xong tất cả các nghĩa vụ thanh toán. Trường hợp ông T2 và bà T3 không trả được nợ, đề nghị Toà án cho xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trong trường hợp, phát mại toàn bộ tài sản vẫn không đủ trả nợ cho ngân hàng, thì ông T2 và bà T3 vẫn tiếp tục phải trả nợ.

- Đại diện theo ủy quyền của ông T2 và bà T3 trình bày: Bị đơn vẫn mong muốn đề nghị ngân hàng giảm lãi để ông T2 và bà T3 có thể trả gốc. Đối với phần lãi phạt chậm trả lãi, đề nghị ngân hàng xem xét miễn toàn bộ phần lãi này cho ông T2 và bà T3.

- Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH H2 trình bày: Công ty đã nhận được toàn bộ các thông báo, giấy báo của tòa án về việc giải quyết tranh chấp vay nợ giữa ngân hàng và ông T2 bà T3, xác nhận có ký biên bản thỏa thuận ba bên như nội dung phía ngân hàng và bị đơn trình bày là đúng, công ty thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DSST-ST, ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân quận HBT, thành phố Hà Nội đã xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng I1 đối với ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng":

- Buộc ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 phải thanh toán trả ngân hàng I1 số tiền là: 69.610.647.448đ (sáu chín tỷ sáu trăm mười triệu sáu trăm bốn bảy nghìn bốn trăm bốn tám đồng), bao gồm nợ gốc: 46.660.376.140đ; lãi trong hạn: 18.904.042.711đ; lãi quá hạn: 1.902.159.107đ và phạt chậm trả lãi: 2.144.069.490đ. (tính đến ngày 12/7/2024). Theo Hợp đồng tín dụng số 112/IVBMĐ-HĐDH/2017 ngày 10/06/2017 và các phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 1 ngày 18/03/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 2 ngày 27/08/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 3 ngày 28/02/2021; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 4 và phụ đính của phụ lục lần 4 ngày 13/01/2022.

- Kể từ ngày (13/7/2024) ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 tiếp tục chịu lãi suất đối với khoản nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, tương ứng với thời gian chậm trả, cho đến khi trả xong khoản nợ gốc cho ngân hàng I1.

- Kể từ ngày án có hiệu lực, nếu ông T2 và bà T3 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng I1, thì ngân hàng I1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp gồm các căn hộ: 1501A diện tích 34m²; 1502A diện tích 52,7m²; 1503A diện tích 48m²; 1504A diện tích 52,7m²; 1505A diện tích 79,5m²; 1506A diện tích 79,5m²; 1507A diện tích 52,7m²; 1511A diện tích 102,5m²; 1514A diện tích 34m²; 1518A diện tích 34m²; 1519A diện tích 52,7m²; 1520A diện tích 79,5m²; 1521A diện tích 79,5m²; 1522A diện tích 52,7m²; 1523A diện tích 48,5m²; 1524A diện tích 52,7m²; 1525A diện tích 34m²; 1601A diện tích 34m²; 1602A diện tích 52,7m²; 1603A diện tích 48,5m²; 1604A diện tích 52,7m²; 1605A diện tích 79,5m²; 1606A diện tích 79,5m²; 1607A diện tích 52,7m²; 1611A diện tích 102,5m²; 1614A diện tích 34m²; 1620A diện tích 79,5m²; 1621A diện tích 79,5m²; 1622A diện tích 52,7m²; 1623A diện tích 48,5m²; 1624A diện tích 52,7m²; 1625A diện tích 34m²; 1701A diện tích 34m²; 1702A diện tích 52,7m² tại Dự án Khu phức hợp Hòa Bình Green Đ, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng, được xác lập bằng: Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư dự án Hòa Bình Green Đ số 006/HĐMB/HĐGĐN ngày 12/05/201 và đã được công chứng theo Hợp đồng thế chấp ngày 10/06/2017, số công chứng 3794 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/06/2017 và được đăng ký giao dịch đảm bảo số 1252096946 ngày 13/06/2017, tại Phòng công chứng số A thành phố Đà Nẵng.

Trường hợp việc phát mại tài sản thế chấp chưa thanh toán hết các khoản nợ thì ông T2 và bà T3 còn phải thanh toán tiếp cho đến khi hết nợ.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thi hành án.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn là ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân quận HBT, thành phố Hà Nội với lý do Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bị đơn thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TNHH I toàn bộ cả gốc và nợ lãi vay, lãi trên nợ gốc chậm trả trong một lần là chưa phù hợp, chưa xem xét đến yếu tố khách quan do đại dịch C1 gây ra cho nền kinh tế nói chung và khó khăn của bị đơn nói riêng. Người kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm: sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị đơn được trả gốc trước và trả lãi sau. Ngoài ra, phần lãi trên nợ gốc chậm trả miễn giảm cho bị đơn do đại dịch C1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn IVB trình bày: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm về số tiền lãi trên số tiền lãi chậm trả.

- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng ý với quan điểm kháng cáo của bị đơn.

Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới và không thỏa thuận được với nhau để giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

Về tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Đã thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng theo quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định và nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên về hình thức là hợp lệ.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DSST-ST, ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân quận HBT, thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Bị đơn ông Trần Quốc T2 và bà Phạm Thị Hồng T3 đã nộp đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật, về hình thức là hợp lệ.
    2. Về xác định người tham gia tố tụng: Bản án sơ thẩm xác định IVB là “Người khởi kiện” và ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3 là “Người bị kiện” là không đúng quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự, phải xác định đúng là Nguyên đơn và Bị đơn. Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về việc xác định các tư cách tham gia tố tụng trong vụ án.
  2. Về nội dung: Xét kháng cáo của ông T2, bà T3:
    1. Do việc ký kết hợp đồng tín dụng, ký kết giao dịch bảo đảm xảy ra trước ngày 15/5/2021, nên khi giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử áp dụng quy định pháp luật trong Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư số 39/20216 của Thống đốc Ngân hàng N1; quy định xử lý giao dịch bảo đảm tại: Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Cấp sơ thẩm áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 là không phù hợp, cần rút kinh nghiệm.
    2. Xét Hợp đồng tín dụng số 112/IVBMĐ-HĐDH/2017 và các phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 1 ngày 18/03/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 2 ngày 27/08/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 3 ngày 28/02/2021; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 4 và phụ đính của phụ lục lần 4 ngày 13/01/2022: IVB đã cấp cho ông T2 và bà T3 một khoản tín dụng như sau: số tiền 56.242.000.000đ (Năm sáu tỷ hai trăm bốn hai triệu đồng chẵn); Mục đích vay: mua 34 căn hộ chung cư thuộc Dự án H3; Thời hạn vay: 15 năm; Lãi suất: kể từ khi căn hộ được bàn giao, lãi suất là 10,5%/năm, kể từ năm thứ hai trở đi lãi suất được áp dụng bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng (+) biên độ 4%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đối với phần nợ gốc chậm thanh toán; Phạt chậm trả lãi là 10%/năm.

      Nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, phù hợp với nhu cầu của bên vay và điều kiện kinh doanh của bên cho vay. Thời điểm ký kết hợp đồng các bên hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp các quy định của Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, phù hợp với Thông tư số 39/2026/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Vì vậy, thỏa thuận có hiệu lực thi hành đối với các bên. Khi ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3 vi phạm thỏa thuận về nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, IVB khởi kiện yêu cầu ông T2, bà T3 phải thanh toán trả các khoản nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là có căn cứ để chấp nhận. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của IVB là có căn cứ, đúng pháp luật.

    3. Xét kháng cáo của ông T2, bà T3, đề nghị bác yêu cầu tính khoản tiền lãi tính trên số tiền nợ lãi trên lãi chậm trả:

      Theo điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2026/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: “4. Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:

      a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;

      b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;”

      Tại điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Điều 8. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm xét xử sơ thẩm

      1. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập trước ngày 01-01-2017 được xác định như sau:

      a) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả được xác định theo lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất tương ứng với thời hạn vay chưa trả.

      b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng phải phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng.

      2. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 được xác định như sau:

      a) Lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này.

      b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn.”

      Căn cứ tài liệu “Bản chi tiết khoản vay Phạm Thị Hồng T3” do IVB cung cấp: từ tháng 7/2022, ông T2 và bà T3 còn nợ khoản lãi trên nợ gốc là 1.902.159.107 đồng. Theo các quy định trên, theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, ông T2 và bà T3 phải chịu khoản tiền lãi trên nợ gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm, tính từ tháng 7/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm 12/7/2024. Cụ thể: 1.902.159.107 đồng x 10% x 02 năm= 380.431.821 đồng.

      IVB tính tổng lãi trên lãi chậm trả không phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3, cần sửa bản án sơ thẩm về phần lãi trên nợ gốc và phần án phí.

      Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

  3. Về án phí:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Ngân hàng TNHH I (IVB) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về khoản tiền lãi không được chấp nhận. Khoản tiền lãi không được chấp nhận là: 2.144.069.490 đồng- 380.431.821 đồng= 1.763.637.669 đồng.

      Ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

    2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

      Do Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn và sửa bản án sơ thẩm nên ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 38, Điều 68, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Điều 8 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ; khoản 2 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính Phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ;
  • Điểm b, khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2026/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
  • Điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm e khoản 1.3 Điều 1 Mục II phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3.
  2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DSST-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân quận HBT, thành phố Hà Nội. Cụ thể như sau:
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TNHH I (IVB) về việc yêu cầu ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3 phải trả khoản tiền vay, tiền nợ lãi theo các hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số 112/IVBMĐ-HĐDH/2017 và các phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 1 ngày 18/03/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 2 ngày 27/08/2020; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 3 ngày 28/02/2021; Phụ lục Hợp đồng tín dụng lần 4 và phụ đính của phụ lục lần 4 ngày 13/01/2022.

      Buộc ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3 phải trả Ngân hàng TNHH I (IVB) tổng số tiền 67.847.009.779 đồng (Sáu mươi bảy tỷ, tám trăm bốn mươi bảy triệu, không trăm linh chín nghìn, bảy trăm bảy mươi chín đồng), trong đó, số tiền nợ gốc là 46.660.376.140 đồng (Bốn mươi sáu tỷ, sáu trăm sáu mươi triệu, ba trăm bảy mươi sáu nghìn, một trăm bốn mươi đồng) và các khoản nợ lãi (tính đến ngày xét xử sơ thẩm) là 18.904.042.711 đồng (Mười tám tỷ, chín trăm linh tư triệu, không trăm bốn mươi hai nghìn, bảy trăm mười một đồng); lãi quá hạn: 1.902.159.107 đồng (Một tỷ, chín trăm linh hai triệu, một trăm năm mươi chín nghìn, một trăm linh bảy đồng) và phạt chậm trả lãi: 380.431.821 đồng (Ba trăm tám mươi triệu, bốn trăm ba mươi mốt nghìn, tám trăm hai mươi mốt đồng).

      Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3 phải chịu lãi suất của số tiền nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong từng hợp đồng tín dụng, cho đến khi thanh toán hết khoản nợ gốc.

    2. Căn cứ Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, số công chứng 3794 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/06/2017: Trường hợp ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3 không trả được các khoản nợ nêu trên, Ngân hàng TNHH I (IVB ) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là quyền sở hữu nhà ở của 34 căn hộ thuộc Dự án Hòa Bình G, đường L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (Các căn hộ cụ thể theo: Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư dự án Hòa Bình Green Đ số 006/HĐMB/HĐGĐN ngày 12/05/201), để thu hồi các khoản nợ.

      Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản đảm bảo vẫn không đủ trả nợ cho IVB thì ông T2 và bà T3 vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho IVB cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

    3. Về án phí:
      • - Án phí dân sự sơ thẩm:
      • + Ngân hàng TNHH I (IVB) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối về khoản tiền lãi không được chấp nhận là 64.909.130 đồng (Sáu mươi tư triệu, chín trăm linh chín nghìn, một trăm bao mươi đồng), được trừ vào số tiền IBV đã nộp tạm ứng án phí là 84.171.674 đồng theo Biên lai thu số 0003029 ngày 13/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận HBT, Hà Nội. Hoàn trả cho Ngân hàng TNHH I số tiền là 19.262.544 đồng (Mười chín triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm bốn mươi tư đồng).
      • + Ông Trần Quốc T2, bà Phạm Thị Hồng T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 175.847.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu, tám trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).
      • - Án phí dân sự phúc thẩm:
      • Hoàn trả cho ông Trần Quốc T2 số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm (do bà Nguyễn Thị Kim A1 nộp thay) theo Biên lai thu số 0024170 ngày 06/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận HBT, thành phố Hà Nội.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND quận HBT ;
  • - Chi cục THADS quận HBT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 185/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng TNHH INDOVINA và bị đơn là ông Trần Quốc Thắng và bà Phạm Hồng Thắm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger