Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/KDTM-PT

Ngày: 25/7/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng thi công

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:Ông Lê Thọ Viên
Các Thẩm phán:Bà Hoàng Thị Bích Thảo
Bà Ngô Thị Phúc Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Anh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 và 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 129/2024/TLPT-KDTM ngày 17 tháng 5 năm 2024 về vụ việc: “Tranh chấp hợp đồng thi công”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 2421/2023/KDTM-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3328/2023/QĐ-PT ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thương mại Vina

    Địa chỉ: B C, Phường H, quận G, TP ..

    Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Đình L – Giám đốc

    Địa chỉ: 8 N, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Công ty Cổ phần K2

    Địa chỉ: Số C Đường P, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyên Đỗ V – Chủ tịch HĐQT

    Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Minh H, sinh năm 1985 (Văn bản ủy quyền số 210/UQ-TECHGEL ngày 16/7/2024)

  3. Người kháng cáo: Bị đơn- Công ty Cổ phần K2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, Đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện và trình bày của đại diện nguyên đơn:

Công ty Cổ phần K3 (gọi tắt Công ty V2) và Công ty Cổ phần K2 (gọi tắt TECHGEL) có ký các hợp đồng sau:

1/ Hợp đồng số 20150903/TG-VN ký ngày 03/9/2015 giữa Công ty T2 và Công ty V2: Nội dung và giá trị hợp đồng: Bên A (Công ty T2 giao cho bên B (Công ty V2) nhận thực hiện các hạng mục công việc cho công trình Vinhomes C – Tòa C2 với chi tiết như sau: Hạng mục Vinhomes C – Tòa C2; Cung cấp vật tư, nhân công thi công lắp đặt hệ thống điện động lực, chiếu sáng. Trọn gói cung cấp vật tư phụ theo chi tiết trong Phụ lục 01 đính kèm (TECHGEL chỉ cấp vật tư thiết bị có ghi rõ TECHGEL cấp, các vật tư còn lại nhà thầu cấp) giá trị hợp đồng: Tổng giá trị hợp đồng trước thuế GTGT: 9.184.719.015 đồng, Thuế GTGT 10%: 918.471.902 đồng, Tổng giá trị hợp đồng bao gồm thuế GTGT: 10.103.190.917 đồng. Ngoài ra hợp đồng còn có các điều khoản khác. Quá trình thực hiện: Sau khi ký hợp đồng, Công ty V2 đã thực hiện hoàn thành hợp đồng và vào tháng 10/2016 dự án đã được bàn giao cho cư dân; Ngày 02/02/2018, hai bên ký bảng giá trị quyết toán khối lượng lắp đặt hoàn thành – hệ điện với giá trị 7.240.604.254 đồng; Từ ngày 02/02/2018 đến nay, Công ty V2 nhiều lần gởi văn bản yêu cầu họp bàn ký thanh lý hợp đồng nhưng Công ty T2 nhiều lần trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc khi họp và gởi văn bản thì đơn phương áp đặt các số liệu mà lãnh đạo hai công ty chưa thống nhất, cụ thể như sau: Sau ngày 02/02/2018, chuyên viên của hai bên đang tiếp tục làm việc các số liệu liên quan để trình lãnh đạo hai bên phê duyệt thì TECHGEL tự chốt số liệu như trong văn bản số 227/TECHGEL vào ngày 28/5/2020; Ngày 30/5/2018 công ty V2 gởi văn bản số 23/VNE/TGL/VPC, phản hồi văn bản nói trên, không đồng ý số liệu do TECHGEL đơn phương đưa ra và đề nghị Tổng giám đốc TECHGEL cử cán bộ đủ thẩm quyền (có giấy ủy quyền của Tổng giám đốc) và nắm bắt được thực tế công trình chốt lại số liệu hai bên chưa thống nhất. Ngày 27/9/2018, Công ty T2 cử ông Nguyễn Tấn M, phó tổng giám đốc làm việc, theo đó TECHGEL sẽ gởi bảng diễn giải khối lượng mà TECHGEL đã bảo vệ với chủ đầu tư trong ngày 27/9/2018, 29/9/2018, 04/10/2018, và 05/10/2018; Ngày 8/10/2018, TECHGEL gửi văn bản số 459/TECHGEL, tự đưa ra số liệu quyết toán và yêu cầu VI NA xác nhận; Ngày 9/10/2018, công ty V2 gởi văn bản số 24/VNE/TGL/VPC, đề nghị tổng giám đốc TECHGEL cử cán bộ có thẩm quyền, nắm bắt tình hình thực tế tại công trường và có giấy ủy quyền chính thức làm việc với Công ty V2 NA trong các ngày từ 15 đến 20/10/2018 để chốt số liệu; Ngày 23/10/2018 TECHGEL cử ông Phạm Thành Đ, phó tổng giám đốc làm việc, hai bên thống nhất được tỷ lệ hao hụt vật tư, cử đại diện được ủy quyền làm việc bắt đầu từ ngày 24/10/2018; Ngày 24/10/2018 Tổng giám đốc T2, ông Đặng Công N mới cung cấp giấy ủy quyền cho ông Phạm Thành Đ làm việc với Công ty V2; Căn cứ trên tỷ lệ vật tư hao hụt đã thống nhất, ngày 24/10/2018, Công ty V2 gửi email cho công ty T2 bảng đối chiếu khối lượng vật tư hệ điện (ông Nguyễn Duy P – là người nhận); Ngày 20/11/2018, ông Phạm Thành Đ ủy quyền lại cho ông Nguyễn Duy P làm việc với công ty V2; Căn cứ trên tỷ lệ vật tư hao hụt đã thống nhất, ngày 04/12/2018, công ty V2 gửi email cho công ty T2 bảng đối chiếu khối lượng vật tư hệ cấp thoát nước (ông Đặng Công N – tổng giám đốc; ông Phạm Thành Đ – phó tổng giám đốc và ông Nguyễn Duy P – là đại diện được ủy quyền là người nhận) Sau nhiều lần trì hoãn, ngày 03/3/2019 ông Nguyễn Duy P thống nhất sẽ làm việc vào các buổi chiều từ ngày 11/3/2019 đến ngày 14/3/2019; ngày 11/3/2019, ông Nguyễn Duy P điện thoại hủy các buổi làm việc nói trên, công ty V2 gởi email đề nghị xác nhận chính thức và ông Nguyễn Duy P đã phản hồi xác nhận hủy các cuộc họp làm việc và thông báo TECHGEL sẽ gởi công văn cho công ty V2 trước ngày 20/3/2019; Sau hơn 2 tháng không có phản hồi, ngày 31/5/2019 công ty V2 gởi email cho tổng giám đốc TECHGEL nhưng cũng không nhận được phản hồi. Ngày 18/7/2019, công ty V2 gởi văn bản số 25/VNE/TGL/VPC, đề nghị Tổng giám đốc TECHGEL cử cán bộ có thẩm quyền, nắm bắt tình hình thực tế tại công trường và có giấy ủy quyền chính thức làm việc với công ty V2 NA trong tháng 7/2019 để chốt số liệu nhưng TECHGEL không phản hồi; Ngày 11/10/2019 công ty V2 gởi văn bản số 26/VNE/TGL/VPC đề nghị Tổng giám đốc TECHGEL hợp tác, nếu không sẽ gởi hồ sơ ra Tòa án; Ngày 14/10/2019, TECHGEL gửi văn bản phản hồi số 354/TECHGEL. Ngày 24/10/2019 công ty V2 có gặp mặt ông Nguyễn Tấn M, phó tổng giám đốc T (không lập biên bản), ông Nguyễn Tấn M hứa hẹn sẽ kiểm tra hồ sơ và sẽ họp lại trong vòng 2 tuần nhưng sau đó không phản hồi.

Hiện tổng số tiền mà Công ty Cổ phần K2 đã thanh toán cho Công ty cổ phần V2 là 3.533.801.554 đồng, như vậy so với giá trị quyết toán đã ký, Công ty cổ phần K2 phải thanh toán cho Công ty cổ phần V2 là 3.706.802.700 đồng (ba tỷ, bảy trăm lẻ sáu triệu, tám trăm lẻ hai ngàn, bảy trăm đồng).

2/ Hợp đồng số 20151008/TG-VN ký ngày 08/10/2015 nội dung và giá trị hợp đồng: theo điều 1 của hợp đồng: Bên A giao cho Bên B nhận thực hiện các hạng mục công việc cho Công trình Vinhomes C – Tòa C2 với chi tiết như sau: Hạng mục: Vinhomes C – Tòa C2; Cung cấp vật tư, nhân công thi công lắp đặt hệ thống cấp thoát nước; Trọn gói cung cấp vật tư phụ theo chi tiết trong Phụ lục A đính kèm (TECHGEL chỉ cấp vật tư thiết bị có ghi rõ TECHGEL cấp, các vật tư còn lại Nhà thầu cấp). Giá trị hợp đồng: Tổng giá trị Hợp đồng trước thuế GTGT: 8.420.000.000 đồng; Thuế GTGT 10%: 842.000.000 đồng; Tổng giá trị Hợp đồng bao gồm thuế GTGT: 9.262.000.000 đồng (Bằng chữ: chín tỷ, hai trăm sáu mươi hai triệu đồng). Ngoài ra, hợp đồng còn có các điều khoản khác. Sau khi ký hợp đồng, Công ty Cổ phần V2 đã thực hiện hoàn thành hợp đồng và vào tháng 10/2016 dự án đã được bàn giao cho cư dân; Ngày 02/02/2018, hai bên ký bảng giá trị quyết toán khối lượng lắp đặt hoàn thành – hệ điện với giá trị 4.204.039.809 đồng;

Từ ngày 02/02/2018 đến nay, công ty V2 nhiều lần gởi văn bản yêu cầu họp bàn thanh lý hợp đồng nhưng Công ty T2 nhiều lần trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc khi họp thì đơn phương áp đặt các số liệu mà lãnh đạo hai công ty chưa thống nhất. Hiện tổng số tiền mà Công ty T2 đã thanh toán cho Công ty V2 là 1.914.044.342 đồng, như vậy so với giá trị quyết toán đã ký, Công ty T2 còn phải thanh toán cho Công ty V2 số tiền 2.289.995.467 đồng (hai tỷ, hai trăm tám mươi chín triệu, chín trăm chín mươi lăm ngàn, bốn trăm sáu mươi bảy đồng). Yêu cầu Tòa án giải quyết cụ thể: Buộc Công ty T2 thanh toán cho Công ty V2 số tiền 3.706.802.700 đồng (ba tỷ, ba trăm lẻ sáu triệu, tám trăm lẻ hai ngàn, bảy trăm đồng) đối với hợp đồng 20150903. Buộc Công ty T2 thanh toán cho Công ty V2 số tiền 2.289.995.467 đồng (hai tỷ, hai trăm tám mươi chín triệu, chín trăm chín mươi lăm ngàn, bốn trăm sáu mươi bảy đồng) đối với hợp đồng 20151008. Tổng số tiền buộc Công ty cổ phần K2 thanh toán cho Công ty cổ phần V2 đối với hai hợp đồng là 5.996.798.167 đồng (năm tỷ, chín trăm chín mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi tám ngàn, một trăm sáu mươi bảy đồng). Công ty V2 có bổ sung thay đổi một số yêu cầu bồi thường như sau: Yêu cầu Tòa án buộc bị đơn Công ty T2 số tiền chưa thanh toán theo hợp đồng là: 4.765.016.224 đồng; Lãi phạt chậm trả (Tạm tính) từ ngày 02/02/2018 tạm tính đến ngày khởi kiện là: 1.670.733.814 đồng. Tổng số tiền yêu cầu bồi thường là 6.435.750.038 đồng (sáu tỷ, bốn trăm ba mươi lăm triệu, bảy trăm năm mươi ngàn, ba mươi tám đồng).

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần K2 có ông Nguyễn Đình T1 trình bày:

Công ty T2 thừa nhận có ký 02 hợp đồng như Công ty V2 trình bày nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty V2 đã thực hiện không đúng với hợp đồng nên Công ty T2 đã không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đề nghị Tòa án buộc nguyên đơn thanh toán số tiền theo đơn yêu cầu phản tố là 7.965.341.759 đồng. Nguyên đơn chưa hoàn thành hợp đồng hệ điện số 20150903/TG-VN và hợp đồng hệ nước số 202508/TG-VN theo thỏa thuận trong hợp đồng hệ điện; tại Điều 2.1; 3.3 điểm a khoản 6.3 Điều 6; điểm b khoản 6.3 Điều 6; Nguyên đơn chưa hoàn thành chất lượng tiến độ nên chưa có biên bản nghiệm thu bàn giao, trong quá trình thi công mất mát thất thoát vật tư theo bản kê. Do đó yêu cầu nguyên đơn trả số tiền 7.965.341.759 đồng bao gồm: Đối với hợp đồng hệ điện: Giá trị phạt tiến độ số tiền 868.890.726 đồng; Giá trị phạt tiến độ số tiền 868.890.726 đồng; Chi phí tiện ích 468.917.772 đồng; Khấu trừ VI NA làm mất vật tư 837.859.721 đồng; Khấu trừ chi phí Chủ đầu tư tăng cường nhân công (Đ, T) làm thay VI NA 189.491.577 đồng; Tổng cộng 2.365.159.796 đồng; Hợp đồng hệ nước: Giá trị phạt tiến độ 504.484.777 đồng; Chi phí tiện ích 516.953.251 đồng; Khấu trừ VI NA làm mất vật tư 2.040.030.662 đồng; Khấu trừ phần trám trét, đóng lưới hoàn thiện 85.113.660 đồng; Khấu trừ phần chênh lệch đơn giá phần lắp thiết bị vệ sinh 385.757.900 đồng. Tổng cộng 3.532.340.250 đồng. Phần chi phí làm thay hoặc cung cấp thay VI NA Phần chi phí công nhân cơ hữu của TECHGEL làm thay VI NA 1.644.348.213 đồng; Chi phí vật tư phụ cấp thay cho VI NA 163.603.500 đồng; Chi phí mua vật tư và thuê nhân công thực hiện bảo hành thay VI NA 74.224.000 đồng; Chi phí đồ bảo hộ 6.500.000 đồng; Phạt vi phạm an toàn, thi công sai kỹ thuật 179.166.000 đồng. Tổng cộng 1.882.175.713 đồng. Lãi suất chậm thanh toán tạm tính từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi VI NA hoàn thành nghĩa vụ của mình.

Đồng thời TECHGEL cũng có đơn đề nghị thẩm định tại chỗ và giám định độc lập chất lượng thi công, những thất thoát, hư hỏng, mất mát trong quá trình thi công và tiến độ thi công của VI NA theo ghi nhận tại Phụ lục C mục 2 điểm c (ii) gạch đầu dòng thứ 4 (T3) các bên có thỏa thuận nguyên tắc sau: “Tại thời điểm quyết toán, Chủ đầu tư và Nhà thầu sẽ thống nhất các khoản bồi thường thiệt hại thực tế và sẽ khấu trừ vào giá trị quyết toán của Hợp đồng. Trường hợp không thống nhất được các khoản bồi thường thiệt hại, thì một hoặc cả hai bên có quyền chỉ định một chuyên gia hoặc đơn vị giám định độc lập theo đề xuất của Chủ đầu tư để xác định/đánh giá giá trị các thiệt hại thực tế mà Nhà thầu phải bồi thường cho Chủ đầu tư. Quyết định của chuyên gia hoặc của đơn vị giám định độc lập về các khoản bồi thường thiệt hại sẽ có hiệu lực ràng buộc áp dụng ngay đối với các bên để thanh toán/ quyết toán, thù lao mời chuyên gia hoặc giám định sẽ do Nhà thầu thanh toán và/ hoặc được khấu trừ vào giá trị thanh tóa cho Nhà thầu tại thời điểm đó”.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện của nguyên đơn công ty V2 trình bày: Ông có đính chính trong quá trình soạn đơn khởi kiện có nhầm lẫn số tiền của hợp đồng hệ Điện là 10.103.190.917 đồng nhưng thực tế hợp đồng hệ Đ1 là 9.735.000.000 đồng. Nguyên đơn xin rút lại yêu cầu lãi phạt chậm thanh toán. Đối với yêu cầu khởi kiện khác nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tuy nhiên có thay đổi về số tiền giảm trừ và có thay đổi về số tiền lãi chỉ yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật là 10,5%/năm. Các khoản giảm trừ bao gồm: Vật tư hệ điện: 426.173.770 đồng (bảng tính đính kèm, căn cứ theo tỷ lệ hao hụt được hai bên thống nhất trong biên bản việc ngày 23/10/2018 và khối lượng đã được VI NA gởi email cho TECHGEL ngày 24/10/2018); Vật tư hệ nước: 508.222.013 đồng (bảng tính đính kèm, căn cứ theo tỷ lệ hao hụt được hai bên thống nhất trong biên bản làm việc ngày 23/10/2018 và khối lượng đã được VI NA gởi email cho TECHGEL ngày 04/12/2018) Chi phí bảo hộ lao động: 6.500.000 đồng (Theo biên bản làm việc ngày 14/3/2018) Chi phí tiện ích công trình: 156.895.212 đồng (theo biên bản làm việc ngày 17/5/2018); Chi phí nhân công do Tinh K thực hiện: 29.280.900 đồng (Theo biên bản làm việc ngày 17/5/2018); Thiết bị vệ sinh: 38.753.356 đồng; Nhân công cơ hữu: 200.960.000 đồng; chi phí phạt an toàn công trình 179.166.000 đồng; chi phí mua vật tư và thuê nhân công thực hiện bảo hành: 74.224.000 đồng. Tổng các khoản giảm trừ: 1.620.174.351 đồng. Tổng số tiền bị đơn chưa thanh toán theo hợp đồng sau giảm trừ là 4.376.632.816 đồng (Bốn tỷ ba trăm bảy mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi hai ngàn tám trăm mười sáu đồng). Do đó yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn số tiền gốc của hai hợp động Đ1 và hợp đồng Nước là 4.376.632.816 đồng; lãi tạm tính đến ngày 12/12/2023 là 2.691.623.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi là 7.068.246.000 đồng. Yêu cầu bị đơn tiếp tục chịu lãi theo quy định pháp luật. Yêu cầu bị đơn trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Cổ phần K2: Vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 2421/2023/KDTM-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc Công ty cổ phần K2 trả cho Công ty C tiền: 7.068.246.000 đồng (Trong đó 4.376.632.816 đồng tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 12/12/2023 số tiền 2.691.623.000 đồng). Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

- Đình chỉ xét xử đối với lãi phạt chậm thanh toán.

- Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần K2 về yêu cầu nguyên đơn Công ty K3 trả số tiền 7.965.341.759 đồng và lãi suất.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Bị đơn phải trả số tiền án phí đối với yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận là 115.068.246 đồng.

- Sung công quỹ số tiền tạm ứng phản tố của bị đơn là 51.826.705 đồng, theo Biên lai thu tiền số AA/2022/0019504 ngày 27/02/2023.

Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo 02 biên lai thu số AA/2019/0087753 ngày 12/6/2020 số tiền 59.998.000 đồng và Biên lai thu tiền số AA/2021/0000748 ngày 01/3/2022 số tiền 16.238.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo luật định.

Ngày 30/1/2024, Công ty Cổ phần K2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với yêu cầu: Không đồng ý trả nợ gốc cho hai hợp đồng điện nước là 4.376.632.816 đồng và tiền lãi 2.691.623.000 đồng cho nguyên đơn như án sơ thẩm tuyên (do hai bên chưa chính thức ký nghiệm thu bàn giao hạng mục công trình và Hồ sơ quyết toán nên không thể hình thành công nợ).

Đề nghị Tòa phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm để xem xét lại đúng thực tế, khách quan, toàn diện.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Công ty Cổ phần K2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị hủy bản án án sơ thẩm do vi phạm tố tụng trong việc tống đạt đối với bị đơn.

Đại diện nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự tại cấp phúc thẩm thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng trong việc tống đạt văn bản tố tụng đối với bị đơn. Trong Biên bản tống đạt ngày 21/11/2023 cho ông Đoàn Tường V1 về Quyết định hoãn phiên tòa số 550/2023/QÐST-KDTM ngày 21/11/2023 nhưng ông V1 không thể hiện vai trò và là người đại diện hợp pháp cho bị đơn khi nhận văn bản dẫn đến việc đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng, giao hồ sơ về tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần K2 làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cùng các văn bản tố tụng khác cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt không lý do nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Đối với việc tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa số 550/2023/QÐST-KDTM ngày 21/11/2023 cho đại diện bị đơn là ông Đoàn Tường V1: Theo đại theo ủy quyền của bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm thì ông Đoàn Tường V1 là Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần K2. Ông V1 không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty nhưng ông là người trong thành phần lãnh đạo, quản lý công ty nên việc ông nhận trực tiếp Quyết định hoãn phiên tòa và đại diện bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm cũng thừa nhận bên bị đơn đã nhận được Quyết định hoãn phiên tòa số 550/2023/QÐST-KDTM ngày 21/11/2023 của Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt nên việc đề nghị hủy án sơ thẩm của bị đơn và đại diện Viện kiểm sát không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự nên không chấp nhận.

- Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn có đủ căn cứ để xác định:

Công ty Cổ phần K3 (gọi tắt Công ty V2) và Công ty Cổ phần K2 (gọi tắt TECHGEL) có ký các hợp đồng sau:

Ngày 03/9/2015 Công ty Cổ phần K3 (gọi tắt Công ty V2) và Công ty Cổ phần K2 (gọi tắt TECHGEL) ký Hợp đồng số 20150903/TG-VN với nội dung: Công ty T2 giao cho Công ty V2 nhận thực hiện các hạng mục công việc cho công trình Vinhomes C với chi tiết như sau: Hạng mục Vinhomes C – Tòa nhà C2 về việc cung cấp vật tư, nhân công thi công lắp đặt hệ thống điện động lực, chiếu sáng, tổng giá trị hợp đồng bao gồm thuế GTGT: 9.735.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Công ty V2 đã thực hiện hoàn thành hợp đồng, tháng 10/2016 dự án đã được bàn giao cho cư dân; Ngày 02/02/2018, hai bên ký bảng giá trị quyết toán khối lượng lắp đặt hoàn thành – hệ điện với giá trị 7.240.604.254 đồng.

Công ty Cổ phần K2 đã thanh quyết toán cho Công ty cổ phần V2 là 3.533.801.554 đồng, Công ty cổ phần K2 còn phải thanh toán cho Công ty cổ phần V2 là 3.706.802.700 đồng.

Ngày 08/10/2015 Công ty V2 và Công ty Cổ phần K2 ký Hợp đồng số 20151008/TG-VN với nội dung: Công ty T2 giao cho Công ty V2 nhận thực hiện các hạng mục công việc cho công trình Vinhomes C– Tòa C2 với chi tiết như sau: Hạng mục Vinhomes C – Tòa C2; Cung cấp vật tư, nhân công thi công lắp đặt hệ thống cấp thoát nước. Tổng giá trị Hợp đồng bao gồm thuế GTGT: 9.262.000.000 đồng.

Sau khi ký hợp đồng, Công ty Cổ phần V2 đã thực hiện hoàn thành hợp đồng, tháng 10/2016 dự án đã được bàn giao cho cư dân; Ngày 02/02/2018, hai bên ký bảng giá trị quyết toán khối lượng lắp đặt hoàn thành với giá trị 4.204.039.809 đồng;

Công ty T2 đã thanh quyết toán cho Công ty V2 là 1.914.044.342 đồng, Công ty T2 còn phải thanh toán cho Công ty V2 số tiền 2.289.995.467 đồng.

Như vậy Công ty T2 còn thanh toán cho Công ty V2 số tiền 3.706.802.700 đồng đối với hợp đồng 20150903 và số tiền 2.289.995.467 đồng đối với hợp đồng 20151008. Tổng số tiền Công ty cổ phần K2 thanh toán cho Công ty cổ phần V2 phát sinh từ hai hợp đồng là 5.996.798.167 đồng.

Nguyên đơn tự nguyện giảm trừ các khoản mà bên bị đơn đưa ra, bao gồm: Vật tư hệ điện: 426.173.770 đồng (bảng tính đính kèm, căn cứ theo tỷ lệ hao hụt được hai bên thống nhất trong biên bản việc ngày 23/10/2018 và khối lượng đã được VI NA gởi email cho TECHGEL ngày 24/10/2018); Vật tư hệ nước: 508.222.013 đồng (bảng tính đính kèm, căn cứ theo tỷ lệ hao hụt được hai bên thống nhất trong biên bản làm việc ngày 23/10/2018 và khối lượng đã được VI NA gởi email cho TECHGEL ngày 04/12/2018) Chi phí bảo hộ lao động: 6.500.000 đồng (Theo biên bản làm việc ngày 14/3/2018) Chi phí tiện ích công trình: 156.895.212 đồng (theo biên bản làm việc ngày 17/5/2018); Chi phí nhân công do Tinh K thực hiện: 29.280.900 đồng (Theo biên bản làm việc ngày 17/5/2018); Thiết bị vệ sinh: 38.753.356 đồng; Nhân công cơ hữu: 200.960.000 đồng; chi phí phạt an toàn công trình 179.166.000 đồng; chi phí mua vật tư và thuê nhân công thực hiện bảo hành: 74.224.000 đồng. Tổng các khoản giảm trừ: 1.620.174.351 đồng là có lợi cho bị đơn. Tổng số tiền bị đơn chưa thanh toán theo hợp đồng sau giảm trừ là 4.376.632.816 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ gốc của hai hợp đồng Đ1 và hợp đồng Nước là 4.376.632.816 đồng là có căn cứ.

Đối với khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán:

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm giữa nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận xác lập hợp đồng, thừa nhận số tiền sau khi hoàn thành công việc, bị đơn đã xác nhận số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn, do bị đơn đã không thực hiện đúng hợp đồng ký kết, không quyết toán cho nguyên đơn số tiền còn thiếu nên có căn cứ cho thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với nguyên đơn.

Nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 02/02/2018 đối với thời gian tính lãi theo yêu cầu của nguyên đơn tính là ngày nguyên đơn và bị đơn ký bảng giá trị quyết toán là phù hợp với quy định tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 12/12/2023 là: 05 năm 313 ngày x 10.5%/ năm. Số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 2.691.623.000 đồng.

Xét, trong suốt quá trình thi công và đã hoàn thành các hạn mục dự án V cũng đã đi vào hoạt động, nguyên đơn cũng đã yêu cầu bị toán thanh toán số tiền đã hoàn thành của các hợp đồng Đ1 và hợp đồng Nước nhưng bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn gây ảnh hưởng đến quá trình hoạt động kinh doanh của nguyên đơn. Nguyên đơn chỉ yêu cầu mức lãi suất 10.5%/năm là thấp hơn mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 11%/năm đến 12%/năm là có lợi cho phía bị đơn, phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật thương mại 2005.

Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bị đơn phải chịu số tiền lãi tạm tính đến ngày 12/12/2023 là 2.691.623.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc còn thiếu 4.376.632.816 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán tính đến ngày 12/12/2023 là 2.691.623.000 đồng. Tổng số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 7.068.246.000 đồng như án sơ thẩm tuyên là có căn cứ.

Tại cấp phúc thẩm, bị đơn cũng không có chứng cứ nào khác ngoài những vấn đề đã trình bày tại cấp sơ thẩm nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Từ phân tích trên, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng thủ tục tố tụng quy định, căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định pháp luật nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 148, Điều 293, Khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần K2.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc Công ty Cổ phần K2 trả cho Công ty Cổ phần C tiền: 7.068.246.000đồng (Trong đó 4.376.632.816 đồng tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 12/12/2023 số tiền 2.691.623.000 đồng). Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

- Đình chỉ xét xử đối với lãi phạt chậm thanh toán.

- Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần K2 về yêu cầu nguyên đơn Công ty Cổ phần K3 trả số tiền 7.965.341.759 đồng và lãi suất.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Bị đơn Công ty Cổ phần K2 phải chịu số tiền án phí đối với yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận là 115.068.246 đồng.

- Sung công quỹ số tiền tạm ứng phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần K2 là 51.826.705 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2022/0019504 ngày 27/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn Công ty Cổ phần K3 số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo 02 Biên lai thu số AA/2019/0087753 ngày 12/6/2020 số tiền 59.998.000 đồng và Biên lai thu số AA/2021/0000748 ngày 01/3/2022 số tiền 16.238.000 đồng của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty Cổ phần K2 phải chịu 2.000.000 đồng được trừ vào Biên lai thu số 0018797 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND quận Bình Thạnh;
  • - VKSND TP Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Cục THADS TP Hồ Chí Minh;
  • - Lưu.

Lê Thọ Viên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2024/KDTM-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công

  • Số bản án: 185/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger