Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/HS-ST

Ngày: 28/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Bình.

Bà Nghiêm Thị Hiền.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Quân, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 193/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2024/QĐXXST-HS, ngày 15/10/2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn C, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình;

nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1963 và con bà Đinh Thị P, sinh năm 1966; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không.

Tiền án:

  • - Tại Bản án số 27 ngày 22/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Văn C 18 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/4/2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành xong khoản tiền án phí 200.000 đồng và sung quỹ Nhà nước 11.237.190 đồng.

Nhân thân:

  • - Tại quyết định số 152 ngày 18/12/2013 của Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn C về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Ngày 07/01/2015, Bùi Văn C đã nộp phạt số tiền trên.
  • - Tại Bản án số 216 ngày 22/10/2015 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Bùi Văn C 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
  • - Tại Bản án số 128 ngày 11/7/2017 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Bùi Văn C 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

Bị hại:

  1. Anh Đoàn Văn Q, sinh năm 1985; trú tại: Thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  2. Anh Nguyễn Tất N, sinh năm 2001; HKTT: Xóm E, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: Thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  3. Chị Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 1996; HKTT: Thôn V, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: Thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1986; trú tại: Thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Đức Đ1, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Yên Phong. Có mặt.
  2. Ông Trần Văn Đ2, cán bộ Công an huyện Y. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 28/02/2024, tại phòng khách nhà anh Bùi Văn Q1 ở thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Bùi Văn C, sinh năm 1991, thường trú tại thôn V, xã H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình đã có hành vi trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen mã máy: 3570 trị giá 3.900.000 đồng, 01 máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu Dell mã máy: E5470 trị giá 1.800.000 đồng và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu xanh đen mã máy: 4556U trị giá 2.200.000 đồng của anh Q1, có tổng giá trị là 7.900.000 đồng.

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 23/7/2024, tại khu nhà trọ của chị Cao Thị L ở thôn Ô, xã Đ, Bùi Văn C lại tiếp tục có hành vi trộm cắp số tiền 2.700.000 đồng trong phòng trọ số 21 của anh Nguyễn Tất N và trộm cắp số tiền 13.000.000 đồng trong phòng trọ số 05 của chị Lê Thị Ngọc Á.

Ngày 03/8/2024, anh Đoàn Văn Q có đơn trình báo gửi Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh về nội dung sự việc bị mất trộm tài sản ngày 28/02/2024.

Ngày 04/8/2024, Bùi Văn C đến Công an huyện Y đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân.

Ngày 04/8/2024, anh Nguyễn Tất N có đơn trình báo gửi Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh về nội dung sự việc bị mất trộm tiền ngày 23/7/2024.

Ngày 11/8/2024, chị Lê Thị Ngọc Á có đơn trình báo gửi Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh về nội dung sự việc bị mất trộm tiền ngày 23/7/2024.

Ngày 04/8/2024, chị Nguyễn Thị V tự nguyện giao nộp 01 máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu Dell mã máy E5470 và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu xanh đen mã máy 4556U.

Tại Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận:

  • “- 01 máy tính xách tay, hiệu Dell, mã 3570 màu đen chip I5 gen 6, ram 8GB, SSD 240, màn hình 15,6 inch đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 02/2024 là: 3.900.000 đồng.
  • - 01 máy tính xách tay, hiệu Dell, mã E5470 màu đen chip I5 gen 6, ram 8GB, SSD 240, màn hình 14 inchđã qua sử dụng tại thời điểm tháng 02/2024 là: 1.800.000 đồng.
  • - 01 máy tính xách tay, hiệu Asus, mã 4556U màu xanh đen chip I5 gen 6, ram 8GB, SSD 240, màn hình 15,6 inch đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 02/2024 là: 2.200.000 đồng.

Tổng giá trị số tài sản trên là: 7.900.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Ngày 29/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại cho anh Đoàn Văn Q 01 máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu Dell mã máy: E5470 và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu xanh đen mã máy: 4556U, anh Q yêu cầu Bùi Văn C bồi thường số tiền 4.000.000 đồng đối với chiếc máy tính xách tay, hiệu Dell, mã 3570.

Quá trình điều tra, chị Lê Thị Ngọc Á yêu cầu Bùi Văn C bồi thường số tiền 13.000.000 đồng; anh Nguyễn Tất N yêu cầu Bùi Văn C bồi thường số tiền 2.700.000 đồng, hiện nay C chưa bồi thường cho các bị hại. Chị Nguyễn Thị V không có đề nghị gì về mặt dân sự đối với Bùi Văn C.

Cáo trạng số: 192/CT-VKSYP ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố Bùi Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo C khai nhận như sau:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 28/02/2024, bị cáo đi bộ đến trước cổng nhà anh Trương Văn B, sinh năm 1982, trú tại thôn Ô, xã Đ, huyện Y. Chinh trèo qua cổng nhà anh B, sau đó trèo sang tầng thượng nhà chị L rồi trèo sang tầng thượng nhà anh Q.

Tại phòng khách nhà anh Q, bị cáo phát hiện có 03 chiếc máy tính xách tay gồm: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen, mã máy: 3570; 01 máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu Dell, mã máy: E5470 và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu xanh đen, mã máy: 4556U để ở cạnh chiếc tivi. Bị cáo lấy 03 chiếc máy tính xách tay này rồi quay lại cầu thang thì thấy 01 ba lô màu xám, C cho 03 chiếc máy tính vào ba lô rồi quay ngược trở lại theo hướng vừa đột nhập để ra ngoài. bị cáo mang 03 chiếc máy tính xách tay đi bán ở một cửa hàng cầm đồ (bị cáo không nhớ tên, địa chỉ cửa hàng), nhưng chỉ bán được chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen, mã máy 3570 với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo đến thuê phòng tại nhà nghỉ B1 ở thôn M, xã L, huyện Y do chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1986 làm chủ. Bị cáo ở nhà nghỉ B1 khoảng một tuần, do không có tiền trả phòng nên bị cáo bỏ đi và để lại 02 chiếc máy tính xách tay trộm cắp được trước đó.

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 23/07/2024, bị cáo trèo vào nhà anh Trương Văn B rồi trèo sang khu nhà trọ của chị Cao Thị L. Khi đi đến phòng trọ số 21 của anh Nguyễn Tất N, sinh năm 2001, HKTT tại xóm E, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, bị cáo dùng tay kéo mở chốt khóa cửa (loại khóa cài) rồi đi vào trong phòng. Tại đây, C thấy ở trong cánh tủ phía trên bên trái của tủ quần áo có 01 chiếc ba lô màu đen, mở ra bên trong có 01 chiếc ví màu đen, bên trong chiếc ví có 05 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, tổng số tiền trên là 2.700.000 đồng. Bị cáo cất số tiền này vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi ra ngoài khóa cửa lại như cũ. Bị cáo tiếp tục di chuyển xuống các tầng bên dưới, khi đi đến phòng trọ số 05, tầng 2 của chị Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 1996, HKTT tại thôn V, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội, bị cáo dùng tay kéo mở chốt khóa cửa phòng rồi lẻn vào bên trong. Tại

đây, bị cáo mở cánh tủ quần áo phía dưới bên phải thấy có 01 chiếc ba lô màu đen mở ra bên trong có 20 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 10 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 10 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, tổng số tiền là 13.000.000 đồng. Bị cáo cất số tiền này vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi trèo ra ngoài theo hướng đã đột nhập. Số tiền trộm cắp được trong ngày 23/7/2024 là 15.700.000 đồng, bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết.

Bị hại là anh Q trình bày: Lời khai của bị cáo C là đúng. Anh yêu cầu bị cáo C phải bồi thường cho anh chiếc laptop đã mất số tiền là 3.900.000 đồng.

Bị hại là anh Nguyễn Tất N trình bày: Lời khai của bị cáo C là đúng. Anh yêu cầu bị cáo C phải trả lại anh số tiền 2.700.000 đồng mà bị cáo đã lấy của anh vào ngày 23/7/2024.

Bị hại là chị Lê Thị Ngọc Á có đơn xin vắng mặt tại phiên toà nhưng trong hồ sơ thể hiện: Chị Á bị mất số tiền 13.000.000 đồng vào ngày 23/7/2024. Chị không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường số tiền nêu trên cho chị.

Người liên quan là chị Nguyễn Thị V có đơn xin vắng mặt tại phiên toà nhưng trong hồ sơ thể hiện: Chị đã giao nộp 01 máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu Dell, mã máy: E5470 và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu xanh đen, mã máy: 4556U. Chị không yêu cầu bị cáo C bồi thường về dân sự cho chị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo: Bùi Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn C từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo C.

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Bùi Văn C phải bồi thường cho anh Đoàn Văn Q số tiền 3.900.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Tất N số 2.700.000 đồng.

Chị Lê Thị Ngọc Á và chị Nguyễn Thị V không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Lưu hồ sơ 02 đĩa DVD hỏi cung bị cáo Bùi Văn C và 01 USB video ngày 28/02/2024.

Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Y, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 28/02/2024, tại phòng khách nhà anh Bùi Văn Q1 ở thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Bùi Văn C đã có hành vi trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen mã máy: 3570 trị giá 3.900.000 đồng, 01 máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu Dell mã máy: E5470 trị giá 1.800.000 đồng và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu xanh đen mã máy: 4556U trị giá 2.200.000 đồng của anh Q1, có tổng giá trị là 7.900.000 đồng.

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 23/7/2024, tại khu nhà trọ của chị Cao Thị L ở thôn Ô, xã Đ, Bùi Văn C lại tiếp tục có hành vi trộm cắp số tiền 2.700.000 đồng trong phòng trọ số 21 của anh Nguyễn Tất N và trộm cắp số tiền 13.000.000 đồng trong phòng trọ số 05 của chị Lê Thị Ngọc Á.

Tổng giá trị tài sản mà C trộm cắp là 23.600.000 đồng.

  • - Tại Bản án số 27 ngày 22/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Văn C 18 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/4/2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành xong khoản tiền án phí 200.000 đồng và sung quỹ Nhà nước 11.237.190 đồng.
  • - Tại quyết định số 152 ngày 18/12/2013 của Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn C về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Ngày 07/01/2015, Bùi Văn C đã nộp phạt số tiền trên.
  • - Tại Bản án số 216 ngày 22/10/2015 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Bùi Văn C 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
  • - Tại Bản án số 128 ngày 11/7/2017 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Bùi Văn C 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Như vậy, bị cáo đã bị xét xử 03 lần về “Trộm cắp tài sản” và 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 26/4/2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành xong khoản tiền án phí 200.000 đồng và sung quỹ Nhà nước 11.237.190 đồng của Bản án số 27 ngày 22/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Bị cáo chưa được xóa án tích, tiếp tục phạm tội là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy hành vi của bị cáo Bùi Văn C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương, cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú và tự khai nhận hành vi trộm cắp tài sản trước đó vào ngày 23/7/2024. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo.

Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại là anh Đoàn Văn Q yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 3.900.000 đồng đối với chiếc máy tính xách tay, hiệu Dell, mã 3570; anh Nguyễn Tất N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.700.000 đồng; Xét thấy, theo Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự

huyện Y kết luận: “ 01 máy tính xách tay, hiệu Dell, mã 3570 màu đen chip I5 gen 6, ram 8GB, SSD 240, màn hình 15,6 inch đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 02/2024 là: 3.900.000 đồng”; bị cáo C đã trộm cắp của anh N số tiền 2.700.000 đồng; Vì vậy, yêu cầu của anh Q và anh N là có căn cứ. Cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Q số tiền 3.900.000 đồng và anh N số tiền 2.700.000 đồng.

Bị hại là chị Lê Thị Ngọc Á và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị V không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Lưu hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD hỏi cung bị cáo Bùi Văn C và 01 USB video ngày 28/02/2024.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 3 Điều 329; Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án; Xử phạt:

Bùi Văn C 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2024.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm (28/10/2024) theo để đảm bảo thi hành án.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Bùi Văn C phải bồi thường cho anh Đoàn Văn Q số tiền 3.900.000 (ba triệu chín trăm nghìn) đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Tất N số 2.700.000 (Hai triệu, bẩy trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, các bên không thỏa thuận được lãi suất thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  • - Lưu hồ sơ 02 đĩa DVD hỏi cung bị cáo Bùi Văn C và 01 USB video ngày 28/02/2024.
  • - Về án phí: Bị cáo C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 330.000 (ba trăm ba mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND huyện Yên Phong;
  • - Công an huyện Yên Phong;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Vũ Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 185/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger