Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/DS - ST

Ngày 03 - 7 - 2024

V/v Tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Hà Thanh Khiết
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Hỳnh Hưỡng
Bà Nguyễn Kim Lên
- Thư ký phiên tòa:Bà Đoàn Thúy Vân - Thư ký Tòa án

Trong ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 281/2024/TLST- DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lâm Thúy L - Sinh năm 1981 (Có mặt)

Cư trú tại: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Bà Đặng Thị D - Sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Cư trú tại: Khóm E, thị trấn T, huyện T, Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 3 năm 2024 thể hiện và tại phiên tòa bà Lâm Thúy L trình bày: Bà Đặng Thùy D1 là người cùng địa phương có mở hụi nhiều năm trước, bà L có tham gia chơi hụi do bà Đặng Thùy D1 làm chủ hụi vào ngày 10/9/2021 âm lịch, hụi 2.000.000 đồng, hình thức hụi tháng, khui vào ngày 19 âm lịch hàng tháng, dây hụi này có 24 chân hụi. Bà L tham gia chơi hụi với tên hụi viên là Út H. Trong quá trình chơi hụi bà L là người hốt chót được số tiền là 46.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi bà D1 chung hụi cho bà L chia làm 03 lần được 31.000.000 đồng. Cụ thể như sau: Ngày 16 tháng 9 năm 2023 âm lịch chung 20.000.000 đồng, ngày 25 tháng 9 năm 2023 âm lịch chung 10.000.000 đồng, ngày 27 tháng 12 năm 2023 âm lịch chung thêm 1.000.000 đồng, còn lại 15.000.000 đồng thì bà D1 không chung tiếp tục cho bà. Bà L đã nhiều lần yêu cầu bà D1 trả tiền hụi còn nợ nhưng bà D1 chỉ hứa mà không trả. Nay bà L khởi kiện bà bà D1 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử buộc bà D1 phải trả tiền nợ hụi cho bà L số tiền còn lại là 15.000.000 đồng.

Đối với bà Đặng Thị D kể từ khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử và giấy triệu tập đương sự, nhưng bà Đặng Thị D vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp Hụi quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015. Tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Qua xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung tranh chấp của vụ án như sau:

Tại hồ sơ thể hiện có danh sách hụi viên, hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 10 tháng 9 năm 2021 âm lịch, khui lúc 12 giờ ngày 19 hàng tháng, ngày 24 gom tiền, ngày 28 giao tiền, hụi viên nào 02 chưng chỉ được hốt 01 chưng. Chủ hụi: D, điện thoại 0948.422.xxx. Tại danh sách hụi, bà L (Ú) đứng ở vị trí số 12 trong danh sách và một giấy giao hụi thể hiện nội dung số lần chung hụi và số tiền chung hụi khớp với lời trình bày của bà L tại đơn khởi kiện và trình bày tại phiên tòa. Mặt khác do bà Đặng Thị D vắng mặt tại cái phiên giải quyết của Tòa án nên tại phiên tòa Chủ tọa phiên tòa cho bà L xác định người trong ảnh đại diện tại tài khoản Đặng D trong ứng dụng ZALO khi tra cứu qua số điện thoại của bà Đặng Thị D là số 0942.572.221 do bà Lâm Thúy L1 cung cấp cho Tòa án có đúng là bà Đặng Thị D mà bà L đang khởi kiện hay không? Kết quả bà L xác nhận hình ảnh người nam và nữ trong trang phục đồ cưới chính là hình ảnh vợ chồng bà D.

Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Mặc dù bà Đặng Thị D đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định xét xử và giấy triệu tập đương sự, nhưng bà Đặng Thị D vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Do đó bà Đặng Thị D phải chịu hậu quả pháp lý cho việc vắng mặt của mình tại các phiên giải quyết vụ án của Tòa án.

Do không có ý kiến phản hồi từ phía bị đơn đối với yêu cầu của Nguyên đơn. Nên hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ là danh sách hụi thể hiện bà Đặng Thị D làm chủ hụi và giấy chung hụi do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.

Sau khi xem xét chứng cứ do nguyên đơn cung cấp kết hợp với sự xác định chính xác bị đơn của nguyên đơn Lâm Thúy L1 tại phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lâm Thúy L1 đối với bà Đặng Thị D.

Buộc bà Đặng Thị D phải trả cho bà L số tiền hụi còn nợ là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Đối với số tiền nêu trên, kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Đặng Thị D không thi hành xong thì bà Đặng Thị D còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

[3] Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể như sau:

Lâm Thị L2 không phải chị án phí, bà L2 được nhận lại 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã dự nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004819 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.

Buộc bà Đặng Thị D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 15.000.000 đồng x 5% = 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các điều 26, 35, 39, 147, 227, 266, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Các điều 357, 471, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lâm Thúy L1 đối với bà Đặng Thị D.

Buộc bà Đặng Thị D phải trả cho bà L2 số tiền hụi còn nợ là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Đối với số tiền nêu trên, kể từ ngày bà L2 có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Đặng Thị D không thi hành xong thì bà Đặng Thị D còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Đặng Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 15.000.000 đồng x 5% = 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Lâm Thúy L được nhận lại 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã dự nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004819 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bà Lâm Thị L2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Đặng Thị D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp pháp theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thanh Khiết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 185/2024/DS - ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 185/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lâm Thúy Liên đối với bà Đặng Thị Dương. Buộc bà Đặng Thị Dương phải trả cho bà Liêm số tiền hụi còn nợ là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Đối với số tiền nêu trên, kể từ ngày bà Liêm có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Đặng Thị Dương không thi hành xong thì bà Đặng Thị Dương còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger