|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 185/2024/DS-PT
Ngày: 22/4/2024
V/v: “Tranh chấp dân sự về
Hợp đồng đặt cọc và yêu cầu bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Cường.
Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Quốc Tuấn;
- Ông Hà Chí Quốc.
Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2024 và ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 359/TLPT-DS ngày 27 tháng 19 năm 2023 về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng đặt cọc và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 114/2023/DS-ST, ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 525/2023/QĐ-PT, ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lý Thị Thanh L, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Phạm Văn T – Luật sư Công ty L1 – Đoàn Luật sư tỉnh T (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Khắc S, sinh năm 1973; Địa chỉ: I, Đường T, Khu phố D, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: ông Nguyễn Đình T1 – là bị đơn;
- Kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lý Thị Thanh L trình bày:
Nguyên vào tháng 9/2022, giữa bà L và ông Nguyễn Đình T1, ông Nguyễn Khắc S có thỏa thuận về việc chuyển nhượng cổ phần Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên K (gọi tắt Công ty TNHH MTV K) – do ông Nguyễn Đình T1 và ông Nguyễn Khắc S là đồng sở hữu, bằng hình thức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền khai thác khoáng sản.
Ngày 01/10/2022, bà L và ông T1 ký “Giấy thỏa thuận về việc mua bán đất khai thác khoáng sản C” với nội dung: “……Diện tích chuyển nhượng là 28,189ha (làm tròn 28ha), đơn giá 1.300.000.000 (Một tỷ, ba trăm triệu) đồng/ha với tổng số tiền là 36.400.000.000 (Ba mươi sáu tỷ, bốn trăm triệu) đồng.”
Căn cứ vào thỏa thuận này, thì giữa bà L và ông Nguyễn Đình T1, ông Nguyễn Khắc S tiếp tục lập “Biên bản thỏa thuận ba bên vào ngày 07/10/2022 để xác định cụ thể các thửa đất chuyển nhượng bao gồm 05 phần đất thuộc các thửa đất số 125, 118, 01, 355, 354 đều tọa lạc tại: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Thống nhất sau khi hoàn tất các thủ tục công chứng chuyển nhượng các phần đất trên thì ông T1 và ông S sẽ thực hiện việc “sang nhượng Công ty TNHH MTV K” cho bà L.
Theo đó, trong 05 thửa đất trên thì có 04 thửa đất đứng tên ông T1 với tổng diện tích khoảng 14 ha và 01 thửa đất đứng tên ông S có diện tích khoảng 4,1 ha nên giữa ông T1 và ông S cũng thống nhất tỉ lệ thanh toán cổ phần tương ứng với diện tích chuyển nhượng như sau: “Phần đất mà ông T1 sang nhượng tương ứng 50% cổ phần khoảng 18.000.000.000 đồng và phần đất mà ông S sang nhượng tương ứng 15% cổ phần khoảng 5.400.000.000 đồng.
Nếu sau này ông Nguyễn Khắc S có ý định sang nhượng cổ phần 35% còn lại chỉ được sang nhượng lại cho bà Lý Thị Thanh L”
Từ việc thống nhất theo các thỏa thuận trên thì ngày 10/10/2022, bà L cũng đã tiến hành ký Hợp đồng đặt cọc và thanh toán tiền đặt cọc theo đúng thời hạn mà ba bên thỏa thuận, theo đó, tổng số tiền mà bà L đã thanh toán cho ông T1 là 4.716.000.000 (bốn tỷ bảy trăm mười sáu triệu) đồng. Cụ thể:
- Ngày 10/10/2022, bà L và ông T1 ký Hợp đồng đặt cọc số công chứng: 7193, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Cụ thể quyền sử
3
dụng đất thỏa thuận ký đặt cọc gồm: Phần đất có điện tích 27.939 m², thuộc thửa đất số 125, tờ bản đồ số 22 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản sản khác gắn liền với đất số DA011339 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 05/02/2021. Phần đất có diện tích 41.333.3 m², thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 22 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản sắn khác gắn liền với đất số DA093586 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 27/01/2021. Phần đất có diện tích 19.977,5 m², thuộc thửa đất số 355, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA093585 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 25/01/2021. Phần đất có diện tích 46.090,5 m², thuộc thửa đất số 354, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA093584 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 25/01/2021. Các phần đất đều tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 18.000.000.000 (mười tám tỷ) đồng. Bà L đặt cọc cho ông T1 số tiền là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng, cụ thể là ngay khi ký Hợp đồng đặt cọc bà L giao số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và ngày 14/10/2022, bà L giao tiếp số tiền 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng.
- Ngày 11/11/2022, bà L, ông T1 ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số công chứng: 7864, quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung hai bên tự thỏa thuận đặt cọc thêm số tiền 200.000.000 đồng. Tổng số tiền đặt cọc là 2.200.000.000 đồng (hai tỷ hai trăm triệu đồng).
- Ngày 30/11/2022, bà L, ông T1 ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số công chứng: 8150, quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung là hai bên tự thỏa thuận sửa đổi, bổ sung đặt cọc tăng thêm số tiền 216.000.000 đồng, tổng cộng số tiền đặt cọc là 2.416.000.000 đồng (hai tỷ bốn trăm mười sáu triệu đồng).
- Ngày 09/12/2022, bà L, ông T1 ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số công chứng: 8376, quyền số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung sửa đổi: Thời hạn đặt cọc kể từ ngày công chứng Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc đến hết ngày 11/01/2023.
- Tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc, các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đang được ông Thanh thế c tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N – Chi nhánh T2 nên bà L và ông T1 thỏa thuận xóa thế chấp được sổ nào thì làm thủ tục chuyển nhượng trước sổ đó. Do đó, ngày 09/12/2022, bà L giao thêm cho ông T1 2.300.000.000 đồng (hai tỷ ba trăm triệu đồng) để trả nợ ngân hàng và ngày 12/12/2022 xóa thế chấp đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA093584 (bà L hiện đang giữ bản chính giấy đất này của ông T1).
Tuy nhiên, ngày 13/12/2022, sau khi Giấy đất đã được xóa thế chấp thì bà
4
L có đến Văn phòng công chứng Dương Kim H để tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng các thửa đất theo thỏa thuận nhưng không liên lạc được với ông T1. Đồng thời, cùng ngày 13/12/2022, bà L nhận được Thông báo về việc hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và hủy thỏa thuận chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Khắc S với nội dung: Ông S “không đồng ý thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng...yêu cầu hủy các thỏa thuận chuyển nhượng và hợp đồng đặt cọc giữa ông T1 và bà L...".
Mục đích ban đầu của các bên khi ký các biên bản thỏa thuận là nhằm “sang nhượng Công ty TNHH MTV K do ông Nguyễn Đình T1 và ông Nguyễn Khắc S là đồng sở hữu” dưới hình thức chuyển nhượng đất và quyền khai thác khoáng sản đối với 05 thửa đất đứng tên ông T1 và ông S. Việc bà L ký Hợp đồng đặt cọc và thanh toán số tiền đặt cọc là để đảm bảo cho việc “sang nhượng Công ty”, chứ không phải chỉ để đặt cọc riêng cho các phần đất đứng tên ông T1. Cũng như, ông S là một trong các đồng sở hữu của Công ty, việc ông S không đồng ý tiếp tục việc chuyển nhượng, yêu cầu hủy các thỏa thuận ba bên và hủy Hợp đồng đặt cọc đã ký kết đã làm cho thỏa thuận ban đầu của ba bên không thể thực hiện được, không đạt mục đích.
Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Tuyên hủy các hợp đồng gồm Hợp đồng đặt cọc số công chứng 7193, quyển số 10/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 7864, quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 8150 quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 8376, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
- Buộc ông Nguyễn Đình T1 có trách nhiệm trả cho bà L số tiền tổng cộng là 7.132.000.000 đồng (Bảy tỷ một trăm ba mươi hai triệu đồng), trong đó gồm: Số tiền đặt cọc là 2.416.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm mười sáu triệu đồng), tiền phạt cọc là 2.416.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm mười sáu triệu đồng) và số tiền bà L đã giao thêm cho ông T1 là 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng).
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L nộp bổ sung Đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà L. Bà L chỉ yêu cầu ông T1 trả số tiền tổng cộng 4.716.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất Ngân hàng từ ngày 09/12/2022 đến ngày xét xử, xin rút yêu cầu phạt cọc.
Theo các đơn phản tố ngày 17/5/2023, ngày 11/7/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Đình T1 trình bày:
Ông T1 và ông Nguyễn Khắc S có hùn nhau làm dự án khai thác khoáng sản tại xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Sau đó ông T1 muốn sang nhượng lại dự án nên kiếm người mua và biết bà L là người có nhu cầu mua đất khai thác qua lời giới thiệu của người bạn.
5
Ngày 26/9/2022 ông T1 và bà L có trao đổi kế hoạch mua bán đất, ông T1 có thông báo cho bà L biết 28ha đất tại xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (trong đó của ông T1 14ha, ông S 14ha) hiện ông T1 và ông S đang vay tại V số tiền 16 tỷ đồng và thỏa thuận ông T1 sẽ hỗ trợ khâu pháp lý cho bà L để bà L được khai thác, tất cả chi phí có chứng từ và không có chứng từ bà L chịu. Đồng thời, ông T1 cũng có thông báo cho bà L biết các khoản vay của ông T1 đã đến hạn và báo bà L biết các giấy đất mà ông T1 đang vay ngân hàng bà L phải tập trung lấy ra và sang tên trước. Ông T1 cũng có đàm phán kế hoạch thanh toán cho bà L biết để bà L chuẩn bị. Bên mua phải nộp tiền vào Ngân hàng để lấy giấy đất ra.
Ông T1 và bà L thống nhất ngày 09/10/2022 thì bà L phải đặt cọc cho ông T1 2.000.000.000 đồng, thỏa thuận hỗ trợ vay ba bên giữa ông T1 – bà L – Ngân hàng và thống nhất với bà L là trong thời gian 60 ngày bà L phải công chứng hết 100%. Nội dung thỏa thuận ngày 26/9/2022 này không có ông S tham gia.
Ngày 02/10/2022, ông T1 và bà L có lập biên bản thỏa thuận về việc mua bán đất khai thác khoáng sản C: Nội dung thống nhất lại giá tiền là 1.300.000.000 đồng/ha x 28ha là 36.400.000.000 đồng. Thỏa thuận ngày đặt cọc là ngày 09/10/2022: bà L đặt cọc 500.000.000 đồng, ngày 10/10/2022: bà L đặt cọc 1.500.000.000 đồng. Trong thời gian 60 ngày phải công chứng hết 100%, đặt cọc tại VPCC D. Hạn hợp đồng đặt cọc từ 10/10/2022 đến 10/12/2022. Ngoài ra, có thỏa thuận về việc ông T1 hỗ trợ pháp lý khai thác giai đoạn 1 là 5ha. Trong thời gian hỗ trợ pháp lý bà L giữ lại 2.000.000.000 đồng (trong 36.400.000.000 đồng), đến khi có quyết định cấp quyền khai thác bà L thanh toán dứt điểm 2.000.000.000 đồng còn lại cho bên bán. Và bà L phải có trách nhiệm rút sổ từ Ngân hàng.
Ngày 07/10/2022, giữa ba bên gồm ông T1, bà L và ông S có thỏa thuận: Thống nhất giá bán đất là 1.300.000.000 đồng/ ha; tổng diện tích bán là 280.189,840m² (trong đó phần của ông T1 diện tích là 50% của 280.189,840m², phần ông S bán cho bà L là 15% của 280.189,840m²), phần tiền ông T1 nhận được là 18.000.000.000 đồng (bà L giữ của ông T1 1.000.000.000 đồng); ông S nhận được 5.400.000.000 đồng. Ngoài ra, còn thỏa thuận ông S nếu muốn bán phần còn lại 35% của ông S thì chỉ được bán cho bà L. Bà L phải chịu các chi phí sang tên; bên bán chịu thuế thu nhập bán đất. Ông T1, bà L, ông S thỏa thuận miệng là do ông T1 đang khó khăn, nhiều người thưa kiện, đến hạn trả nợ ngân hàng nên ưu tiên là bà L phải thanh toán tiền cho ông T1 trước vì bán phần đất của ông T1 trước. Do đó, phần 2.000.000.000 đồng bà L đặt cọc là chỉ đặt cọc cho riêng ông T1.
Ngày 10/10/2022, bà L và ông T1 ký Hợp đồng đặt cọc số công chứng: 7193, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Sau đó, hai bên tiếp tục ký các hợp đồng sửa đổi, bổ sung gồm Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 7864, quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 8150 quyển số 11/2022
6
TP/CC-SCC/HĐGD. Mục đích ký các hợp đồng này là do bà L chưa đủ tiền công chứng nên chỉ chuyển tiền cho ông T1 đóng lãi Ngân hàng, tạo điều kiện cho bà L xoay sở tiền. Tổng số tiền cọc và bổ sung hai lần bà L đã đưa cho ông T1 2.416.000.000 đồng.
Ngày 05/12/2022: bà L có xin ông T1 thay đổi kế hoạch công chứng các thửa so với hợp đồng đặt cọc và bà L thỏa thuận với ông T1 khi ký chuyển nhượng thửa đất 354 thì cho bà L thiếu lại 1.000.000.000 đồng trong thời hạn 7 ngày vì bà L không đủ tiền. Ông T1 đồng ý với bà L.
Ngày 08/12/2022 bà L thỏa thuận với ông T1 xin hủy Hợp đồng đặt cọc 7193 để ký lại hợp đồng mới nhưng ông T1 không đồng ý mà chỉ đồng ý ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 8376, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung gia hạn thêm thời gian cho bà L đến hết ngày 11/01/2023.
Ngày 09/12/2022, bà L chuyển tiếp số tiền 2.300.000.000 đồng cho ông T1 theo thỏa thuận để bổ sung cho Hợp đồng đặt cọc 7193 để rút Giấy đất của thửa đất 354 ra. Ngày 12/12/2022, bà L đã xóa thế chấp đối với Giấy đất của thửa đất 354 nhưng không ra công chứng cùng ông T1 với lý do cho rằng là đất lúa nên chưa đi ký công chứng được. Hiện bà L đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA093584 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 25/01/2021 của ông T1.
Sau đó, ông T1 nhiều lần yêu cầu bà L thanh toán tiền để hai bên ký công chứng nhưng bà L không thực hiện, từ chối giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng đặt cọc 7193. Do đó, bà L là người vi phạm các Hợp đồng đặt cọc đã ký với ông T1, gây thiệt hại đến danh dự, uy tiến và việc kinh doanh, mua bán của ông T1. Do đó, ông T1 đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L. Nếu bà L vẫn đồng ý nhận chuyển nhượng thì ông T1 vẫn thiện chí đồng ý tiếp tục chuyễn nhượng, bà L giao đủ tiền cho ông T1 theo thỏa thuận. Nếu bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện thì phải bồi thường cho ông T1. Cụ thể:
Tại đơn phản tố ngày 17/5/2023, Ông T1 yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại về danh dự, uy tín theo quy định pháp luật và yêu cầu bồi thường thiệt hại về việc làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc kinh doanh, mua bán, không ký kết được các hợp đồng xây dựng, mất thu nhập tính đến ngày 11/5/2023 là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Tại Đơn phản tố ngày 11/7/2023, ông T1 yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại thêm số tiền 834.882.000 đồng. Tổng cộng ông T1 yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại số tiền 1.334.882.000 đồng (một tỷ ba trăm ba mươi bốn triệu tám trăm tám mươi hai ngàn đồng); trong đó tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, uy tín là 20.000.000 đồng; tiền bồi thường thiệt hại còn lại tổng cộng là 1.314.882.000 đồng. Tại phiên tòa, ngoài các khoản yêu cầu bồi thường trên, ông T1 yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại thêm số tiền 843.642.522
7
đồng là tiền lãi phát sinh do bà L vi phạm hợp đồng với ông T1 nên khoản nợ của ông với Ngân hàng bị chuyển nợ xấu.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Khắc S trình bày:
Khoảng tháng 8 hoặc tháng 9/2022, giữa ông S, ông T1 và bà L có ký biên bản ba bên với nội dung: Ông T1 sẽ sang nhượng phần diện tích đất khoảng 14ha đất (tương ứng 50% diện tích khu đất khoảng 28ha) tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh và Công ty K cho bà L với giá khoảng 1,3 tỷ/ ha. Ông S sẽ sang nhượng phần diện tích đất khoảng 4,2ha (tương ứng 15% diện tích khu đất khoảng 28ha) đất tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh với giá khoảng 1,3 tỷ/ ha. Giá chuyển nhượng này do ông T1, bà L thỏa thuận, ông S đồng ý.
Các bên thỏa thuận trong vòng 03 tháng (đến hết tháng 12/2022) là thực hiện dứt điểm việc chuyển nhượng. Đồng thời, có thỏa thuận thực hiện chuyển nhượng xong phần của ông T1 thì mới chuyển nhượng đến phần của ông S.
Sau đó, ông T1 và bà L tiến hành ra công chứng đặt cọc; tại thời điểm này không có mặt ông S, nội dung thỏa thuận đặt cọc của ông T1, bà L cũng chỉ thỏa thuận đặt cọc các phần đất do ông T1 đứng tên, không có thỏa thuận liên quan đến các phần đất mà ông S đứng tên. Ông S được biết số tiền bà L đặt cọc lần đầu cho ông T1 tổng cộng là 2.000.000.000 đồng. Theo đúng thỏa thuận ban đầu của ba bên thì sau khi đặt cọc ông T1 sẽ giữ tương ứng 50% cổ phần cọc, ông S sẽ được giữ tương ứng 15% cổ phần cọc. Tuy nhiên, sau khi ông T1 nhận tiền cọc thì không đưa cho ông S khoản tiền nào. Sau đó, do thấy giữa ông T1, bà L không thể thực hiện được như đúng thỏa thuận của ba bên nên giữa tháng 12/2022 ông S có làm và gửi cho bà L thông báo về việc ngưng giao dịch phần của ông S theo thỏa thuận ký 03 bên giữa ông S, ông T1 và bà L. Do các phần đất trong hợp đồng đặt cọc giữa bà L, ông T1 là phần đất của ông T1 và các khoản tiền cọc là ông T1 nhận của bà L, không đưa lại cho ông S khoản tiền nào nên ông không có tranh chấp, không có ý kiến gì trong vụ án này. Đối với thỏa thuận giữa ông, bà L, ông T1 nếu có phát sinh tranh chấp ông sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L – Luật sư Phạm Văn T trình bày:
Các quyền sử dụng đất mà ông T1 thỏa thuận chuyển nhượng cho bà L đều chưa được chuyển mục đích để phù hợp quy hoạch; các tài sản này hiện cũng đang bị thế chấp cho Ngân hàng. Việc ông S không đồng ý tiếp tục việc chuyển nhượng, yêu cầu hủy các thỏa thuận ba bên đã làm cho thỏa thuận ban đầu của ba bên không thể thực hiện được, không đạt mục đích. Ông T1 là người có lỗi làm cho hợp đồng không thực hiện được nên bà L yêu cầu ông T1 trả lại số tiền đã thanh toán tổng cộng là 4.716.000.000 đồng là có căn cứ. Đồng thời, tuy trong đơn khởi kiện bà L không có yêu cầu tính lãi nhưng có bản tự khai bà L có ghi nội dung này nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
8
của bà L.
Đối với yêu cầu phản tố của ông T1 là không có căn cứ vì các khoản tiền ông T1 bị kiện, bị chuyển nợ xấu... là nghĩa vụ và trách nhiệm của ông T1, không liên quan gì đến bà L. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông T1.
Bản án sơ thẩm số 114/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ các Điều 116, 117, 122, 123, 131, 328, 589, 592 Bộ luật dân sự 2015; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Thanh L về việc “Tranh chấp về Hợp đồng đặt cọc” đối với bị đơn là ông Nguyễn Đình T1.
- Tuyên bố các hợp đồng gồm Hợp đồng đặt cọc số công chứng 7193, quyển số 10/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 7864, quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 8150 quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 8376, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được ký kết giữa ông Nguyễn Đình T1 và bà Lý Thị Thanh L là vô hiệu.
- Buộc ông Nguyễn Đình T1 phải hoàn trả cho bà L số tiền tổng cộng là 4.716.000.000 đồng (Bốn tỷ bảy trăm mười sáu triệu đồng)
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Bà Lý Thị Thanh L có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Đình T1 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA093584 (số vào sổ cấp GCN: CS02621) do Sở Tài nguyên và môi trường cấp ngày 25/01/2021, cập nhật chuyển nhượng ngày 01/02/2021.
2. Đình chỉ đối với việc bà L yêu cầu ông T1 trả số tiền phạt cọc là 2.416.000.000 đồng.
3. Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu phản tố của ông T1 về việc: yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại số tiền 1.334.882.000 đồng (Một tỷ ba trăm ba mươi bốn triệu tám trăm tám mươi hai ngàn đồng); trong đó tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, uy tín là 20.000.000 đồng; tiền bồi thường thiệt hại còn lại tổng cộng là 1.314.882.000 đồng.
9
Theo đơn kháng cáo ngày 26 tháng 9 năm 2023 của bị đơn ông Nguyễn Đình T1 kháng cáo đối với bản án số 114/2023/DS-ST ngày 14/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T1.
Ngày 12/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh kháng nghị đối với bản án số 114/2023/DS-ST ngày 14/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng đúng quy định của pháp luật, án phí và lãi chậm thi hành án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên toà phúc thẩm ông T1 yêu cầu bà Lý Thị Thanh L tiếp tục thực hiện hợp đồng công chứng số 7193, quyển số 10/2022TP/CC-SCC/HĐGD cùng các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng đặt cọc số công chứng 7864, quyển số 1/2022TP/CC-SCC/HĐGD; hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng đặt cọc số công chứng 8376, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Nếu bà Lý Thị Thanh L không tiếp tục thực hiện hợp đồng trên thì sẽ mất số tiền đặt cọc 4.716.000.000 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
+ Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đình T1.
+ Chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số: 24/QĐ-VKS-DS, ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh kháng nghị đối với Bản án số 114/2023/DS-ST ngày 14-9-2023 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đình T1 và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo, kháng nghị thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải
10
quyết theo thủ tục phúc thẩm. Nguyên đơn bà Lý Thị Thanh L; người bảo vệ quyền và lợi ích bà L là Luật sư Phạm Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Khắc S có đơn xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh và kháng cáo của ông Nguyễn Đình T1 thấy rằng:
Ông T1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T1, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L. Ông T1 yêu cầu bà Lý Thị Thanh L tiếp tục thực hiện hợp đồng công chứng số 7193, quyển số 10/2022TP/CC-SCC/HĐGD cùng các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng đặt cọc số công chứng 7864, quyển số 11/2022TP/CC-SCC/HĐGD; hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng đặt cọc số công chứng 8376, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Nếu bà Lý Thị Thanh L không tiếp tục thực hiện hợp đồng trên thì sẽ mất số tiền đặt cọc 4.716.000.000 đồng.
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 24/QĐ-VKS-DS, ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh kháng nghị đối với Bản án số 114/2023/DS-ST ngày 14-9-2023 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Bản án Dân sự sơ thẩm số 114/2023/DS-ST nhận định “...bà L và ông T1 đều xác nhận tại thời điểm ký kết Hợp đồng đặt cọc... các bên đều biết việc thế chấp các tài sản trên nhưng cả hai bên đều đồng ý ký kết Hợp đồng đặt cọc...tại thời điểm giao kết hợp đồng đặt cọc hai bên không nhận được sự đồng ý bằng văn bản của Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh T2 nhưng vẫn tiến hành ký kết hợp đồng. Do đó, căn cứ Điều 123 của Bộ luật Dân sự 2015, Hợp đồng đặt cọc 7193 bị vô hiệu vì vi phạm thỏa thuận của hợp đồng thế chấp số 0029 ngày 04/02/2021; hợp đồng thế chấp số 0036 ngày 09/02/2021 và vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật Dân sự 2015...” là áp dụng không đúng quy định pháp luật. Trong trường hợp này, phải xác định hợp đồng đặt cọc ngày 10/10/2022 và các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc là hợp đồng độc lập, có hiệu lực pháp luật và căn cứ vào các thỏa thuận trong hợp đồng để xác định trách nhiệm các bên khi không ký kết được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Bản án DSST số 114/2023/DS-ST nhận định “...Ông T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 112.716.000 đồng...” là không đúng Khoản 4, Điều 27 Nghị quyết số 326 về án phí, lệ phí Tòa án.
Mặt khác, Bản án DSST số 114/2023/DS-ST buộc ông T1 trả cho bà L số tiền đặt cọc 4.716.000.000 đồng nhưng quyết định “kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
11
suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015” là không đúng quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và thiệt hại đến quyền lợi của đương sự.
Xét về thoả thuận giữa bà B L, ông T1 và ông S để dẫn đến các bên ký hợp đồng đặt cọc số công chứng 7193, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ký ngày 10/10/2022. Trước đó khoảng tháng 9/2022 bà L, ông T1 và ông S có thoả thuận chuyển nhượng cổ phần Công ty TNHH MTV K do ông T1 và ông S đồng sở hữu, bằng hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền khai thác khoáng sản. Ngày 01/10/2022 bà L và ông T1 ký “Giấy thoả thuận về việc mua đất khai thác khoáng sản”. Căn cứ vào thỏa thuận này, thì giữa bà L và ông Nguyễn Đình T1, ông Nguyễn Khắc S tiếp tục lập “Biên bản thỏa thuận ba bên vào ngày 07/10/2022 để xác định cụ thể các thửa đất chuyển nhượng bao gồm 05 phần đất thuộc các thửa đất số 125, 118, 01, 355, 354 đều tọa lạc tại: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Thống nhất sau khi hoàn tất các thủ tục công chứng chuyển nhượng các phần đất trên thì ông T1 và ông S sẽ thực hiện việc “sang nhượng Công ty TNHH MTV K” cho bà L.
Theo đó, trong 05 thửa đất trên thì có 04 thửa đất đứng tên ông T1 với tổng diện tích khoảng 14 ha và 01 thửa đất đứng tên ông S có diện tích khoảng 4,1 ha nên giữa ông T1 và ông S cũng thống nhất tỉ lệ thanh toán cổ phần tương ứng với diện tích chuyển nhượng như sau: “Phần đất mà ông T1 sang nhượng tương ứng 50% cổ phần khoảng 18.000.000.000 đồng và phần đất mà ông S sang nhượng tương ứng 15% cổ phần khoảng 5.400.000.000 đồng.
Nếu sau này ông Nguyễn Khắc S có ý định sang nhượng cổ phần 35% còn lại chỉ được sang nhượng lại cho bà Lý Thị Thanh L”
Từ việc thống nhất theo các thỏa thuận trên thì ngày 10/10/2022, bà L cũng đã tiến hành ký Hợp đồng đặt cọc và thanh toán tiền đặt cọc theo đúng thời hạn mà ba bên thỏa thuận, theo đó, tổng số tiền mà bà L đã thanh toán cho ông T1 là 4.716.000.000 (bốn tỷ bảy trăm mười sáu triệu) đồng.
Tại thời điểm giao kết hợp đồng các thửa đất trên đang thế chấp tại Ngân hàng, các bên thoả thuận trả tiền rút giấy làm thủ ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất đó. Hai bên đã tiến hành trả tiền ngân hàng và rút giấy chứng nhận đối với phần đất có diện tích 46.090,5 m², thuộc thửa đất số 354, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA093584 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 25/01/2021. Ngày 13/12/2022 ông S có thông báo cho bà L biết ông không đồng ý thực hiện hợp đồng chuyển nhượng theo giấy thoả thuận ba bên. Yêu cầu huỷ các thoả thuận chuyển nhượng và hợp đồng đặt cọc giữa ông T1 và bà L.
12
Mục đích bà L chuyển nhượng các phần đất trên là để khai thác đất cùng với việc thoả thuận giữa bà L, ông T1, ông S sẽ “sang nhượng Công ty TNHH MTV K” do ông T1 và ông S đồng sở hữu, đang lúc ông T1 và bà L thực hiện từng bước của Hợp đồng công chứng số 7193, quyển số 10/2022TP/CC-SCC/HĐGD thì ông S đề nghị huỷ thoả thuận chuyển nhượng đất và việc chuyển nhượng Công ty TNHH MTV K. Qua xem xét Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV K chủ sở hữu là bà Trần Thị Thu H1, sinh ngày 01/01/1989, trú tại số C ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, không phải ông T1 và ông S chủ sở hữu, chứng tỏ hai ông đã lừa dối bà L để ký Hợp đồng công chứng số 7193, quyển số 10/2022TP/CC-SCC/HĐGD. Giao dịch này vô hiệu hiệu do bị lừa dối theo Điều 127 Bộ luật Dân sự, không phải vô hiệu do vi phạm điều cấm theo Điều 117, 123 Bộ luật Dân sự như cấp sơ thẩm áp dụng. Lỗi trong giao dịch dân sự trong vụ kiện này thuộc về phía ông T1, từ đó yêu cầu phản tố của ông T1 yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại không có căn cứ chấp nhận. Cấp sơ thẩm tuyên bố các hợp đồng gồm Hợp đồng đặt cọc số công chứng 7193, quyển số 10/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 7864, quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 8150 quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 8376, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được ký kết giữa ông Nguyễn Đình T1 và bà Lý Thị Thanh L là vô hiệu có căn cứ.
Buộc ông Nguyễn Đình T1 phải hoàn trả cho bà L số tiền tổng cộng là 4.716.000.000 đồng (Bốn tỷ bảy trăm mười sáu triệu đồng) là có căn cứ. Ông T1 kháng cáo không có căn cứ chấp nhận.
Xét kháng nghị số: 24/QĐ-VKS-DS, ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh kháng nghị đối với Bản án số 114/2023/DS-ST ngày 14-9-2023 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận toàn bộ kháng nghị, sữa án sơ thẩm.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của ông T1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đình T1;
- Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.
13
- Sửa Bản án sơ thẩm số 114/2023/DS-ST, ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ các Điều 116, 127, 131, 328, 589, 592 Bộ luật dân sự 2015; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Thanh L về việc “Tranh chấp về Hợp đồng đặt cọc” đối với bị đơn là ông Nguyễn Đình T1.
- Tuyên bố các hợp đồng gồm Hợp đồng đặt cọc số công chứng 7193, quyển số 10/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 7864, quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 8150 quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đặt cọc số công chứng 8376, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được ký kết giữa ông Nguyễn Đình T1 và bà Lý Thị Thanh L là vô hiệu.
- Buộc ông Nguyễn Đình T1 phải hoàn trả cho bà L số tiền tổng cộng là 4.716.000.000 đồng (Bốn tỷ bảy trăm mười sáu triệu đồng)
Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T1 không thi hành các khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Bà Lý Thị Thanh L có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Đình T1 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA093584 (số vào sổ cấp GCN: CS02621) do Sở Tài nguyên và môi trường cấp ngày 25/01/2021, cập nhật chuyển nhượng ngày 01/02/2021.
2. Đình chỉ đối với việc bà L yêu cầu ông T1 trả số tiền phạt cọc là 2.416.000.000 đồng.
3. Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu phản tố của ông T1 về việc: yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại số tiền 1.334.882.000 đồng (Một tỷ ba trăm ba mươi bốn triệu tám trăm tám mươi hai ngàn đồng); trong đó tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, uy tín là 20.000.000 đồng; tiền bồi thường thiệt hại còn lại tổng cộng là 1.314.882.000 đồng.
4. Về án phí:
4.1 Án phí sơ thẩm:
Ông Nguyễn Đình T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tổng cộng là 164.162.000 đồng (Một trăm sáu mươi bốn triệu một trăm sáu mươi hai nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tổng cộng là 30.523.000 đồng theo các Biên lai thu số 0002142 ngày 07/6/2023 và số 0002295
14
ngày 12/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Ông T1 còn phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 133.639.000 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng).
Hoàn trả cho bà Lý Thị Thanh L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.866.000 đồng (Năm mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0001673 ngày 20/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
4.2. Án phí phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Đình T1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông T1 đã nộp theo Biên lai thu số 0002496 ngày 29/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp, bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Cường |
Bản án số 185/2024/DS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp dân sự về hợp đồng đặt cọc và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Số bản án: 185/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về Hợp đồng đặt cọc và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: yêu cầu trả cọc và bồi thường
