|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 184/2024/HSST Ngày: 31 - 7 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Thiện;
- Bà Trần Ngọc Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/HSST ngày 08 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Công T, sinh năm 1990 tại Ninh Thuận; nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công H và bà Lê Thị Hồng T1; bị cáo có vợ tên Pi Năng Thị N (đã chết) và có 01 ngươi con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú nhưng bỏ trốn, hiện đang bị truy nã.
- Bị hại: Ông Ngô Ngọc T2, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn A, vắng mặt;
- Ông Tô Thanh T3, vắng mặt;
- Ông Phạm Thành N1, vắng mặt;
- Ông Lê Hoàng N2, vắng mặt;
- Ông Vũ Đình H1, vắng mặt;
- Ông Lê Dương D, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Tấn T4, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn A, Tô Thanh T3, Phạm Thành N1, Lê Hoàng N2, Vũ Đình H1, Lê Dương D, Nguyễn Tấn T4 và Nguyễn Công T là bạn bè quen biết ngoài xã hội, cùng nhau thành lập nhóm “SOS Toàn Cầu” do A làm nhóm trưởng, mục đích là hỗ trợ người dân gặp sự cố trên đường và phân luồng giao thông. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/5/2021, A, N1, T3, N2, H1, D, T4 và T hẹn gặp nhau rồi cùng điều khiển xe mô tô lưu thông trên các tuyến đường để thực hiện công việc như mục đích của nhóm. A một mình điều khiển xe mô tô hiệu Winer màu đỏ-đen-bạc biển số 18B2 – 659.32 dẫn đầu để cả nhóm đi theo sau tuần tra. Khi cả nhóm đến đường D, khu dân cư T thuộc khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, H1 nhìn thấy Ngô Ngọc T2 đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn nên H1 và N2 chặn T2 lại rồi thông báo cho A, T3, T, N1, D và T4 đến để kiểm tra và các thành viên đứng xung quanh Ngô Ngọc T2. Qua kiểm tra phát hiện T2 có giấu 01 (một) cái nỏ thủy tinh dùng để sử dụng trái phép chất ma túy nên N1 dùng dây rút nhựa mang theo sẵn và cùng D trói chặt hai tay T2 ra phía sau lưng rồi cả nhóm gồm A, N1, T3, N2, H1, D, T4 và T điều khiển xe mô tô cùng đưa T2 đến trụ sở Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giải quyết. Công an phường T xác định T2 chỉ có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuy chứ không có hành vi vi phạm pháp luật khác nên đã lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với T2 theo quy định. Đồng thời chuyển báo cáo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xem xét, xử lý hành vi của Nguyễn Văn A, Tô Thanh T3, Phạm Thành N1, Lê Hoàng N2, Vũ Đình H1, Lê Dương D, Nguyễn Tấn T4 và Nguyễn Công T về hành vi bắt người trái pháp luật.
Vật chứng thu giữ là 01 (một) sợi dây rút bằng nhựa và 01 (một) ống thủy tinh (nỏ).
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Công T bỏ trốn và đến ngày 10/11/2023 ra đầu thú.
Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKSTA ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Nguyễn Công T về tội “Bắt người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Bị cáo Nguyễn Công T bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương đã ra quyết định truy nã nhưng đến nay chưa bắt được nên xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự
[2] Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Công T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/5/2021, tại đường D, khu dân cư T thuộc khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Công T đã cùng với Nguyễn Văn A, Tô Thanh T3, Lê Hoàng N2, Vũ Đình H1, Lê Dương D, Nguyễn Tấn T4 và Phạm Thành N1 đã có hành vi dùng dây rút nhựa trói tay Ngô Ngọc T2 đang đi trên đường đưa về về trụ sở Công an phường T, thành phố T và bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội với tội danh, điều, khoản như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo nhận thức được hành vi bắt người là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Trong quá trình điều tra, bị cáo bỏ trốn khỏi nơi cư trú gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử vụ án. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo ra đầu thú; bị cáo không biết chữ nên hạn chế về mặt nhận thức pháp luật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Mức đề nghị hình phạt đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố T đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn A, Tô Thanh T3, Phạm Thành N1, Lê Hoàng N2, Vũ Đình H1, Lê Dương D, Nguyễn Tấn T4 và vật chứng đã được giải quyết tại Bản án số 20/2023/HS-ST ngày 13/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Đối với Ngô Ngọc T2 có hành vi tàng trữ 01 ống thủy tinh dạng nỏ để sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 27/5/2021, Công an phường T, thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội với số tiền là 750.000 đồng.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
- Điều 136, Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Kiệt |
Bản án số 184/2024/HSST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (bắt người trái pháp luật)
- Số bản án: 184/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Bắt người trái pháp luật)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyễn công T
