Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 184/2023/HS-ST

Ngày: 30 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải An.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông La Văn Việt

2. Bà Nguyễn Thị Rạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 177/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2023/QĐST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thái B, sinh ngày 27/4/2002, tại Bạc Liêu;

Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh G và bà Đặng Thị T; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Quyết định xử phạt hành chính số 55/QĐ ngày 25/4/2022 của Công an huyện C, tỉnh Cà Mau xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 29/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu xử phạt Nguyễn Thái B 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phí ngày 05/12/2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2023.

Bị cáo Nguyễn Thái B đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 17/8/2023 đến nay (có mặt).

- Bị hại:

Trương Hữu T1, sinh năm 2002. Địa chỉ: Ấp V, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (xin vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Trương Văn C, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp V, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

2/ Cái Thị Bích H, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 18/5/2021, Nguyễn Thái B điện thoại cho Trương Hữu T1 nhờ T1 đến Bến xe M, Thành phố Hồ Chí Minh chở B về xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Future FI, màu đỏ đen biển số 83X1- 015.81 đến bến xe M, thành phố Hồ Chí Minh đón B, trên đường về T1 và B vào nhà nghỉ G1 thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An thuê phòng số 202. T1 để xe mô tô biển số 83X1- 015.81 vào nhà xe, rồi cùng với B lên phòng nghỉ. Trong lúc T1 đi vệ sinh, B nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của T1 bán lấy tiền tiêu xài nên B lấy điện thoại OPPO A52 của T1 đang để trên giường cất vào túi quần rồi cầm chìa khóa xe mô tô của T1 để trên bàn đi xuống quầy tiếp tân lấy giấy chứng minh nhân dân của T1 và đi lại nhà xe của nhà nghỉ lấy xe mô tô biển số 83X1- 015.81 chạy về hướng Quốc lộ N để về tỉnh Bạc Liêu. B điều khiển xe đi được khoảng 30 phút thì vào nhà nghỉ ven đường không nhớ tên thuê phòng ở lại. Tại đây, B kiểm tra cốp xe mô tô biển số 83X1- 015.81 có 01 điện thoại Iphone 11 Promax. Đến khoảng 19 giờ ngày 21/5/2021, Bình bán xe mô tô biển số 83X1- 015.81 cho người nam thanh niên tên P không rõ nhân thân lai lịch được 5.000.000 đồng, bán điện OPPO A52 cho cửa hàng điện thoại không rõ biển hiệu được 3.000.000 đồng, điện thoại Iphone 11 Promax do không mở được khóa màn hình nên B vứt điện thoại và chứng minh nhân dân của T1 xuống ven đường, sau đó B đón xe khách đi về nhà ở xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Đến ngày 07/02/2023, Trương Hữu T1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An trình báo vụ việc.

Vật chứng tạm giữ: Không.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 26/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Future FI màu đỏ đen, biển số 83X1- 015.81, số khung: 7628LY006292, số máy: JC76E1118122 trị giá 21.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, loại A52, màu xanh trị giá 3.000.000 đồng; 01 phôi sim điện thoại trị giá 25.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax 64GB trị giá 14.700.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 38.725.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 180/CT-VKSĐH ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thái B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Thái B hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Trương Hữu T1 có lời trình bày tại Cơ quan điều tra: Ngày 18 tháng 5 năm 2021, T1 bị Nguyễn Thái B trộm 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Future FI màu đỏ đen, biển số 83X1- 015.81, số khung: 7628LY006292, số máy: JC76E1118122 trị giá 21.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, loại A52, màu xanh trị giá 3.000.000 đồng; 01 phôi sim điện thoại trị giá 25.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax 64GB trị giá 14.700.000 đồng. Nay T1 chưa nhận lại được tài sản bị trộm nên yêu cầu bị cáo Nguyễn Thái B phải bồi thường tổng trị giá tài sản là 38.725.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn C có lời trình bày tại Cơ quan điều tra: xe mô tô hiệu Honda, loại Future FI màu đỏ đen, biển số 83X1- 015.81, số khung: 7628LY006292, số máy: JC76E1118122 do ông C đứng tên Giấy chứng nhận đăng ký xe, ông C giao cho con ruột là Trương Hữu T1 được toàn quyền quản lý, sử dụng, do đó đề nghị xem xét giải quyết trả lại xe hoặc bồi thường tương đương giá trị của xe cho T1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 50, 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái B phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Thái B mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2023.

Về tang vật chứng: Không có nên đề nghị không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Do các tài sản bị trộm không truy tìm lại được, bị hại Trương Hữu T1 yêu cầu bị cáo B bồi thường tổng trị giá tài sản bị trộm là 38.725.000 đồng, bị cáo B đồng ý bồi thường số tiền này đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo B bồi thường cho bị hại T1 số tiền 38.725.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Thái B đã có trách nhiệm bồi thường cho bị hại T1 số tiền 38.725.000 đồng nên đề nghị không buộc nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

Đối với bà Cái Thị Bích H là chủ nhà nghỉ G1 1 cho bị cáo Nguyễn Thái B và bị hại Trương Hữu T1 thuê phòng nhưng bà H không biết việc bị cáo B thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại T1, hành vi không cấu thành tội phạm có liên quan nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại có đơn xin vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thái B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường cùng với Kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 26/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 20 giờ ngày 18/5/2021, tại nhà nghỉ G1 thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, Nguyễn Thái B có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản gồm: 01 điện thoại OPPO A52 có gắn 01 sim điện thoại, 01 điện thoại Iphone 11 Promax, 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Future FI màu đỏ đen, biển số 83X1- 015.81 với tổng trị giá 38.725.000 đồng của Trương Hữu T1. Bị cáo Bình bán xe mô tô và điện thoại di động thu lợi 8.000.000 đồng.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo B gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của ông Trương Hữu T1, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo xâm hại quyền sở hữu của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo B đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thái B theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, cần có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thái B phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, bị cáo có bà nội là liệt sĩ. Do đó, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[4]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thái B là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5]. Về tang vật chứng: Không có nên không xem xét

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Do các tài sản bị trộm không truy tìm lại được, bị hại Trương Hữu T1 yêu cầu bị cáo B bồi thường tổng trị giá tài sản bị trộm là 38.725.000 đồng, bị cáo B đồng ý bồi thường số tiền này nên Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo B bồi thường cho bị hại T1 số tiền 38.725.000 đồng.

[7]. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Thái B đã có trách nhiệm bồi thường cho bị hại T1 số tiền 38.725.000 đồng nên không buộc nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

[8]. Đối với bà Cái Thị Bích H là chủ nhà nghỉ G1 1 cho bị can nguyễn T2 và bị hại Trương Hữu T1 thuê phòng nhưng bà H không biết việc bị cáo B thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại T1, hành vi không cấu thành tội phạm có liên quan nên không xem xét.

[9]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thái B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, 38 Bộ luật Hình sự

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2023.

    Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thái B 45 ngày kể từ ngày tuyên án (30/11/2023) để đảm bảo thi hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thái B bồi thường cho bị hại Trương Hữu T1 tổng số tiền 38.725.000 đồng – Ba mươi tám triệu bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Thái B nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.937.000đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hải An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 184/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái B "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger