Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 184/2024/HS-ST

Ngày 30/8/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vương Thị Minh Tân.
  2. Bà Trần Thị Liên.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 175/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn A; sinh năm: 2001 ; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 8/12; con ông: Nguyễn Văn T, con bà: Nguyễn Thị T1; gia đình có 3 anh em; vợ: Hồ Thị Ngọc T2, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 5 năm 2024, đến ngày 11 tháng 5 năm 2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Nguyễn Xuân H; sinh năm: 2000; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Nguyễn Văn H1, con bà: Đỗ Thị C; gia đình có 2 anh em; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 5 năm 2024, đến ngày 11 tháng 5 năm 2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Trần Quang H2; sinh năm 1998; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: 22/173 M, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị T1; sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Có mặt tại phiên toà).
  2. Ông Nguyễn Văn H1; sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H không có công ăn việc làm ổn định nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác với thủ đoạn: Tạo các nhóm môi giới mại dâm giả mạo trên ứng dụng Telegram rồi tải về ảnh gái bán dâm tìm kiếm được trên mạng Internet để đăng bài môi giới mại dâm kèm theo ảnh gái bán dâm lên các nhóm T3, sau đó chiếm đoạt tiền khách mua dâm đặt cọc trước. H là người tìm kiếm ảnh, bài đăng và để thông tin liên hệ là tài khoản Telegram mang tên “HMH Book”. Văn A là người đăng ký, quản lý tài khoản Telegram “HMH Book” và trả lời khi có khách nhắn tin để mua dâm.

Để thực hiện hành vi lừa đảo trên, khoảng tháng 9/2023 Văn A và H đặt mua 01 tài khoản Ngân hàng ACB trên mạng Telegram của một người không quen biết (Tài khoản trên đã bị khóa nên cả hai đã vứt bỏ và không nhớ rõ thông tin), thuê phòng tại Chung cư V, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội và rủ thêm anh Nguyễn Thanh T4, sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên về sống chung. Văn A và H dạy cho cho anh T4 thủ đoạn lừa đảo, giao cho T4 nhắn tin qua tài khoản Telegram với khách mua dâm. Thời gian này không lừa được ai nên đến khoảng tháng 10/2023 anh T4 không làm nữa và bỏ về quê. Anh T4 đã nhiều lần khuyên Văn Al và H không thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nữa nhưng Văn A1 và H không đồng ý. Cuối tháng 12/2023, Văn A1 và H trả phòng tại Chung cư V về quê tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên sinh sống.

Đến tháng 02/2024, cả hai lại tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 20/02/2024, Văn A1 và H thuê anh Nguyễn Văn D, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên mở 01 tài khoản Ngân hàng V (Anh D1 không biết mục đích sử dụng tài khoản ngân hàng của Văn A1 và H), mang tên Nguyễn Văn D để nhận tiền lừa đảo của các bị hại và mua 01 sim không chính chủ số 0587007155 để giả danh làm quản lý gái bán dâm nói chuyện với khách. Ngày 04/3/2024, tài khoản “HMH Book” nhận được tin nhắn từ tài khoản Telegram mang tên “H3”, đăng ký bằng số điện thoại 0901.606.xxx của anh Trần Quang H2, sinh năm 1998, trú tại 2 M, phường M, thành phố N đặt vấn đề gọi 02 gái bán dâm để quan hệ tình dục tập thể và 01 gái bán dâm cho một người bạn. Văn A1 yêu cầu anh H2 gửi địa chỉ và chuyển 2.000.000 đồng tiền cọc vào tài khoản Ngân hàng V Nguyễn Văn D, ghi nội dung là “Dat book”. Anh H2 chuyển tiền và gửi địa chỉ tại nhà nghỉ G, số B N, phường L, thành phố N. Sau khi anh H2 chuyển tiền thì Văn A1 sử dụng số điện thoại 0587.007.xxx gọi điện yêu cầu anh H2 phải cọc thêm 2.000.000 đồng là tiền đảm bảo an toàn cho các gái bán dâm để tránh trường hợp bị khách đánh đập và ghi nội dung “Dat an toan”. Sau đó, Văn A1 tiếp tục nhắn tin cho biết các gái bán dâm đã lên xe yêu cầu anh H2 chuyển 500.000 đồng để trả tiền xe, xong việc sẽ trừ vào tiền mua dâm. Sau khi anh H2 chuyển tổng số tiền là 4.500.000 đồng thì Văn A1 đã xóa toàn bộ tin nhắn Telegram giữa Văn A1 và anh H2. Số tiền chiếm đoạt được của anh H2, Văn A1 và H đến cửa hàng điện thoại của anh Đào Văn H4, sinh năm 1984, địa chỉ xóm E, Y, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên đổi tiền trong tài khoản sang tiền mặt (Khi đổi tiền, cả hai không nói về nguồn gốc số tiền trong tài khoản cho anh H4 biết). Số tiền mặt đổi được, Văn A1 và H chia đều và tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 01/5/2024, anh Trần Quang H2 đến công an thành phố N trình báo vụ việc đồng thời giao nộp sao kê tài khoản ngân hàng M “Trần Quang H2”, STK 60615888886 và nội dung tin nhắn giữa tài khoản Telegram “HMH Book” và tài khoản mang tên “H3”.

Ngày 02/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã triệu tập Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân H đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn A và Nguyễn Xuân H khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đồng thời Nguyễn Văn A tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 8 màu xanh, Nguyễn Xuân H tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 8 màu đen. Cơ quan điều tra đã kiểm tra chiếc điện thoại S Galaxy Note 8 màu đen của Nguyễn Xuân H, phát hiện trong ứng dụng Telegram có 15 nhóm “Gái gọi”, “Checker” với 859 ảnh gái bán dâm do Hà tải trên mạng về rồi đăng lên các nhóm T3, tuy nhiên không có ảnh nào khỏa thân, lộ vùng nhạy cảm của cơ thể, có nội dung khiêu dâm, đồi trụy.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định dữ liệu số và điện tử đối với 02 chiếc điện thoại thu giữ.

Bản kết luận giám định số 1033/KL-KTHS ngày 09/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Phục hồi, trích xuất được 27956 (Hai mươi bảy nghìn chín trăm năm mươi sáu) tin nhắn Telegram trên chiếc điện thoại S Galaxy Note 8, màu đen, IMEI: 355731092414219 (Ký hiệu A1). Không phục hồi, trích xuất được dữ liệu tin nhắn Telegram trên chiếc điện thoại SamSung Galaxy Note 8, màu xanh, IMEI: 358503085039155 (Ký hiệu A2). Dữ liệu phục hồi, trích xuất được lưu trong 01 đĩa DVD có chứa 2,43 MB dung lượng dữ liệu.

Ngày 21/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N có công văn thông báo phương thức thủ đoạn phạm tội và truy tìm bị hại trên toàn quốc gửi đến Cục C1 Bộ C2 và Cơ quan cảnh sát điều tra các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đến nay không thụ lý giải quyết vụ án, vụ việc, tin báo tố giác tội phạm nào liên quan đến phương thức thủ đoạn và số tài khoản Ngân hàng nêu trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định có 87 tài khoản Ngân hàng khác thực hiện chuyển tiền đến tài khoản Ngân hàng V Nguyễn Văn D, số tài khoản 0587332403. Ngày 31/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã gửi Công văn đến các Ngân hàng đề nghị cung cấp thông tin về chủ tài khoản của 87 tài khoản Ngân hàng có liên quan nêu trên. Cơ quan điều tra đã nhận được Công văn phúc đáp của các Ngân hàng về thông tin của 43/87 chủ tài khoản Ngân hàng có liên quan trong vụ án đều không cư trú tại thành phố N và xác định được 06 chủ tài khoản Ngân hàng, tuy nhiên các chủ tài khoản đều không có mặt tại địa phương.

Về dân sự: Ngày 14/5/2024, Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H đã tác động để ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977 (Bố đẻ của H) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980 (Mẹ đẻ của Văn A) bồi thường số tiền 4.500.000 đồng cho anh Trần Quang H2. Anh H2 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu phải bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H.

Bản Cáo trạng số 180/CT-VKS-TPNĐ ngày 12/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà: Các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H thành khẩn khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình; người phạm tội đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi trả tự do cho bị cáo tại phiên toà nếu bị cáo không bị bắt tạm giam về một tội phạm khác.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; trả tự do cho các bị cáo tại phiên toà nếu bị cáo không bị bắt tạm giam về một tội phạm khác.
  • Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: 01 chiếc điện thoại S Note 8, màu đen, IMEI: 355731092414219; 01 chiếc điện thoại SamSung Galaxy Note 8, màu xanh, IMEI: 358503085039155; 01 chiếc điện thoại Nokia, mầu đen, Model TA-1174, IMEI: 350664631639456 thu giữ của các bị cáo đều là công cụ phạm tội của các bị cáo nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N. Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H; người bị hại là anh Trần Quang H2; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T1 và ông Nguyễn Văn H1 đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Xét thấy lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Đơn trình báo; lời khai của bị hại; biên bản xác minh; biên bản nhận dạng; biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; Kết luận giám định; lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở kết luận: Từ đầu tháng 9/2023 đến tháng 02/2024 các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H đã dùng thủ đoạn gian dối như dùng điện thoại của mình lập các nhóm môi giới mại dâm giả mạo trên ứng dụng Telegram, tải các hình ảnh gái bán dâm trên mạng Internet, đăng bài môi giới mại dâm kèm theo ảnh gái bán dâm lên các nhóm T3, sau đó chiếm đoạt tiền khách mua dâm đặt cọc trước. Đến ngày 04/3/2024 các bị cáo sử dụng tài khoản “HMH Book” để liên lạc môi giới mại dâm với tài khoản T3 “Hiếu” của anh Trần Quang H2 cư trú tại địa chỉ 2 đường M, phường M, thành phố N. Sau đó yêu cầu anh H2 chuyển tiền đặt cọc trước và đã chiếm đoạt của anh H2 số tiền 4.500.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là khách thể được pháp luật Nhà nước bảo hộ. Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H cùng bàn bạc, cùng thống nhất thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên là đồng phạm. Bị cáo Nguyễn Văn A trực tiếp nhắn tin môi giới mại dâm, gửi hình ảnh gái bán dâm cho anh H2, yêu cầu anh H2 chuyển tiền đặt cọc; bị cáo Nguyễn Xuân H tải hình ảnh gái bán dâm trên mạng về máy điện thoại, đăng bài môi giới mại dâm lên các nhóm gái gọi, giả làm quản lý gái bán dâm, yêu cầu anh H2 chuyển tiền cọc đảm bảo cho gái bán dâm nên có vai trò ngang nhau. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những gây bất bình, phẫn nộ trong quần chúng nhân dân mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bản thân các bị cáo là người đã trưởng thành, bình thường về thể chất và tâm thần, nhận thức rõ việc làm sai trái của mình là vi phạm pháp luật nhưng với lối sống buông thả, lười lao động, muốn có thu nhập để hưởng thụ nên các bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó của các bị cáo là vi phạm pháp luật Nhà nước, trái với đạo đức xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo.

[4] Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đều tác động đến gia đình để bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H đều có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, đều nhất thời phạm tội, phạm tội ít nghiêm trọng và có khả năng tự cải tạo nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để các bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Các bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án này và không bị tạm giam về một tội phạm khác; các bị cáo bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự thả tự do cho các bị cáo tại phiên tòa.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình của hai bị cáo là bà Nguyễn Thị T1 và ông Nguyễn Văn H1 đã bồi thường cho anh Trần Quang H2 số tiền 4.500.000 đồng, anh H2 đã nhận đủ và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[8] Đối với 87 tài khoản Ngân hàng khác thực hiện chuyển tiền đến tài khoản Ngân hàng V Nguyễn Văn D, số tài khoản 0587332403. Ngày 31/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã gửi Công văn đến các Ngân hàng đề nghị cung cấp thông tin về chủ tài khoản của 87 tài khoản Ngân hàng có liên quan nêu trên. Cơ quan điều tra đã nhận được Công văn phúc đáp của các Ngân hàng về thông tin của 43/87 chủ tài khoản Ngân hàng có liên quan trong vụ án đều không cư trú tại thành phố N và xác định được 06 chủ tài khoản Ngân hàng. Tuy nhiên các chủ tài khoản đều không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[9] Đối với 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 8, màu đen, IMEI: 355731092414219 thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân H; 01 chiếc điện thoại SamSung Galaxy Note 8, màu xanh, IMEI: 35850308503915501 và 01 chiếc điện thoại Nokia, mầu đen, Model TA-1174, IMEI: 350664631639456 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn A đều là công cụ phạm tội của các bị cáo nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[10] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn ANguyễn Xuân H bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A và bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Bị cáo có thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02 tháng 5 năm 2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30 tháng 8 năm 2024).
    • - Trả tự do tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Văn A nếu bị cáo Nguyễn Văn A không bị tạm giam về một tội phạm khác.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Bị cáo có thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02 tháng 5 năm 2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30 tháng 8 năm 2024).
    • - Trả tự do tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Xuân H nếu bị cáo Nguyễn Xuân H không bị tạm giam về một tội phạm khác.
  4. Giao bị cáo Nguyễn Văn A và bị cáo Nguyễn Xuân H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Văn A và bị cáo Nguyễn Xuân H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Văn A và bị cáo Nguyễn Xuân H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  5. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 8, màu đen, IMEI: 355731092414219; 01 chiếc điện thoại SamSung Galaxy Note 8, màu xanh, IMEI: 35850308503915501 và 01 chiếc điện thoại Nokia, mầu đen, Model TA-1174, IMEI: 350664631639456 (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định).

  6. Về án phí:

    Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn A và bị cáo Nguyễn Xuân H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 61, Điều 62, Điều 65, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Nguyễn Văn A và bị cáo Xuân H có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại là anh Trần Quang H2 vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS. TP Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Đức Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 184/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn A - Nguyễn Xuân H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger