Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 184/2024/DS-ST

Ngày: 30 – 5 - 2024

V/v hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích – Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 162/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản – hợp đồng mua bán tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 240/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Trung T, sinh năm 1991; Địa chỉ: tổ B, đường số B, khu dân cư C, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang. có mặt

Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số H, Bùi Văn D, khóm T, phường M, thành phố L, An Giang. có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Nguyễn Thanh L, sinh năm 1981; vắng mặt
  • + Lê Thị Mỹ D1, sinh năm 1981. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Trần Trung T trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:

Về hợp đồng vay tài sản: Ngày 25/12/2021, ông Nguyễn Minh T1 có vay tiền của ông Trần Trung T tại thời điểm vay do là anh em chơi thân nên không làm hợp đồng vay nợ. Đến ngày 15/10/2023, ông T và ông T1 mới viết giấy vay nhận nợ. Số tiền vốn ông T1 vay ông T là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng); Lãi suất hai bên thỏa thuận là 4% tháng, đóng tiền lãi hàng tháng; Từ sau ngày 15/10/2023 đến nay, ông T1 không thanh toán lãi, vốn như đã thỏa thuận.

Về hợp đồng mua bán xe: Ông T1 có mua lại từ ông chiếc xe honda nhãn hiệu SH biển số 67G1 – 039.79 do ông Nguyễn Thanh L đứng tên giấy đăng ký xe. Chiếc xe này do ông T mua từ ông Nguyễn Thanh L, bà Lê Thị Mỹ D1, có làm hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Công T2 ngày 26/8/2022. Nhưng do ông T chưa làm thủ tục sang tên nên ông T có viết giấy mua bán chiếc xe honda biển số 67G1 – 039.79 cho ông T1. Về thỏa thuận mua bán ông T1 còn thiếu lại ông T số tiền 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng) cam kết hàng tháng trả cho ông T số tiền là 20.000.000 đồng/tháng. Sau khi nhận xe đến nay ông T1 không thanh toán số tiền như thỏa thuận.

Nay, nguyên đơn ông T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Về hợp đồng vay tài sản: ông thay đổi yêu cầu khởi kiện, rút lại yêu cầu tiền lãi, chỉ yêu cầu tiền vốn vay. Buộc ông Nguyễn Minh T1 có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền nợ gốc là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) và không yêu cầu tiền lãi.

Về hợp đồng mua bán tài sản: ông yêu cầu buộc ông Nguyễn Minh T1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật từ ngày 28/3/2023.

Án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định pháp luật.

- Bị đơn ông Nguyễn Minh T1 trình bày: Ông xác định ông có ký tên vào biên nhận ngày 15/10/2023 và giấy mua bán xe ngày 28/02/2023, nay ông T khởi kiện thì yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật. Ông có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh L, bà Lê Thị Mỹ D1 vắng mặt và không gửi tự khai trình bày ý kiến do đó không ghi nhận được ý kiến của của ông bà.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn trình bày: yêu cầu ông T1 có nghĩa vụ trả cho ông số tiền nợ gốc là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng); yêu cầu ông T1 có nghĩa vụ trả cho ông số tiền gốc là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật tính từ ngày 28/3/2023. Án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Trung T khởi kiện về hợp đồng vay tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đối với ông T1 có địa chỉ cư trú tại thành phố L nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các ông bà là phù hợp với qui định pháp luật tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Hợp đồng vay tài sản: Ông T thay đổi yêu cầu khởi kiện, rút lại yêu cầu về tiền lãi, chỉ yêu cầu ông Nguyễn Minh T1 có nghĩa vụ trả cho ông số tiền nợ gốc là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng). Đối với việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện này là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật do đó căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện, đình chỉ đối với yêu cầu tiền lãi.

[2.2] Đối với yêu cầu số tiền vốn vay: Hội đồng xét xử căn cứ vào biên nhận ngày 15/10/2023 có nội dung ông T1 có vay của ông T số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) và nay ông T1 thừa nhận chữ ký, chữ viết tại biên nhận là của ông và ông T1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh đã thực hiện xong nghĩa vụ theo biên nhận. Do đó, có đủ cơ sở xác định ông T1 và ông T có xác lập hợp đồng vay tài sản, việc xác lập hợp đồng này là tự nguyện và phù hợp với Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên theo quy định pháp luật. Nay ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả tiền do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 466, Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc ông T1 có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).

[2.3] Về hợp đồng mua bán tài sản: Chiếc xe biển số 67G1-039.79, nhãn hiệu Honda, số máy KF08E1065291, số khung 10B0AF063063, loại SH150I, màu sơn xanh theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 029392 ngày 23/7/2019 do ông Nguyễn Thành L1 đứng tên chủ sở hữu. Theo đó, ông L1, bà D1 và ông T đã xác lập hợp đồng mua bán xe mô tô, xe máy được công chứng tại Văn phòng C ngày 26/8/2022. Việc mua bán đã có hiệu lực và nay ông L1, bà D1 không có yêu cầu gì, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Nay ông T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Minh T1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật từ ngày 28/3/2023. Theo giấy mua bán xe ngày 28/02/2023, ông T và ông T1 thỏa thuận “số tiền mua bán xe còn lại 170.000.000 đồng (một trăm bảy mươi triệu đồng) góp mỗi tháng 20.000.000 đồng trong vòng chín tháng”. Tuy nhiên, cho đến nay ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền như đã thỏa thuận, ông thừa nhận chữ ký, chữ viết và không cung cấp chứng cứ chứng minh việc đã thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông T3.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 280 Bộ luật dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc ông T1 có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền 170.000.000 đồng (một trăm bảy mươi triệu đồng).

[2.5] Về yêu cầu tính lãi chậm trả: Theo giấy mua bán xe, hai bên không thỏa thuận về lãi chậm trả do đó căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về yêu cầu tính lãi, cụ thể như sau:

  • - Từ ngày 28/3/2023 đến 30/5/2024: 10%/năm x 20.000.000đ x 01 năm 64 ngày = 2.350.000 đồng (hai triệu, ba trăm năm mươi ngàn đồng)
  • - Từ ngày 28/4/2023 đến 30/5/2024: 10%/năm x 20.000.000đ x 01 năm 33 ngày = 2.180.000đ (hai triệu, một trăm tám mươi ngàn đồng)
  • - Từ ngày 28/5/2023 đến 30/5/2024: 10%/năm x 20.000.000đ x 01 năm 03 ngày = 2.016.000đ (hai triệu, không trăm mười sáu ngàn đồng)
  • - Từ ngày 28/6/2023 đến 30/5/2024: 10%/năm x 20.000.000đ x 11 tháng 03 ngày = 1.849.000đ (một triệu tám trăm bốn mươi chín ngàn đồng)
  • - Từ ngày 28/7/2023 đến 30/5/2024: 10%/năm x 20.000.000đ x 10 tháng 03 ngày = 1.672.000đ (một triệu, sáu trăm bảy mươi hai ngàn đồng)
  • - Từ ngày 28/8/2023 đến 30/5/2024: 10%/năm x 20.000.000đ x 09 tháng 03 ngày = 1.516.000đ (một triệu, năm trăm mười sáu ngàn đồng)
  • - Từ ngày 28/9/2023 đến 30/5/2024: 10%/năm x 20.000.000đ x 08 tháng 03 ngày = 1.349.000đ (một triệu, ba trăm bốn mươi chín ngàn đồng)
  • - Từ ngày 28/10/2023 đến 30/5/2024: 10%/năm x 20.000.000đ x 07 tháng 03 ngày = 1.172.000đ (một triệu một trăm bảy mươi hai ngàn đồng)
  • - Từ ngày 28/11/2023 đến 30/5/2024: 10%/năm x 10.000.000đ x 06 tháng 03 ngày = 516.000đ (năm trăm mười sáu ngàn đồng)

Tổng cộng tiền lãi: 516.000đ + 1.172.000đ + 1.349.000đ + 1.516.000đ + 1.672.000đ + 1.849.000đ + 2.016.000đ + 2.180.000đ + 2.350.000đ = 14.620.000đ (mười bốn triệu, sáu trăm hai mươi ngàn đồng)

Như vậy, ông T1 có nghĩa vụ trả cho ông T tổng số tiền: 400.000.000đ + 170.000.000đ + 14.620.000đ = 584.620.000 đồng (năm trăm tám mươi bốn triệu, sáu trăm hai mươi ngàn đồng)

[2.6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông T được chấp nhận và đình chỉ một phần do rút yêu cầu khởi kiện do đó ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông T tạm ứng án phí đã nộp. Ông T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Trung T đối với yêu cầu về tiền lãi của hợp đồng vay tài sản.
  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Trung T. Buộc ông Nguyễn Minh T1 có nghĩa vụ trả cho ông Trần Trung T số tiền 584.620.000 đồng (năm trăm tám mươi bốn triệu, sáu trăm hai mươi ngàn đồng).
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Minh T1 phải chịu 27.385.000đ (hai mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Trần Trung T số tiền 14.615.000đ (mười bốn triệu, sáu trăm mười lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001759 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
  • Ông Trần Trung T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  • Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS Tp. Long Xuyên;
  • - Lưu; hồ sơ vụ án, văn phòng.

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản – hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 184/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản – hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử vắng mặt bị đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger