|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 184/2023/DS-PT
Ngày: 28-8-2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hà.
Các Thẩm phán: Ông Ngô Thanh Sỹ;
Ông Nguyễn Trung Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Phùng Đức Nam - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 123/2023/TLPT-DS ngày 14/4/2023 về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, yêu cầu công nhận QSD đất, hủy GCNQSD đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2023/QĐXXPT-DS ngày 04 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 437/2023/QĐST-DS ngày 28/7/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn Bà Lâm Thị T, sinh năm: 1976.
Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị H, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: Khu phố L phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm: 1948.
Địa chỉ: 1 Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm: 1968.
Địa chỉ: 7/2, tổ B, khu phố D, phường B, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
1
(VB ủy quyền ngày 05/6/2018, bà A có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Lê Thị C sinh năm: 1958.
Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1966 (chồng bà T).
Địa chỉ: ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai ( có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khu T huyện N, ấp X, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai
Người làm chứng: Ông Trần Văn D, sinh năm 1970, cư trú tại khu A, ấp B, xã Đ, huyện N.
(Ông Ngọc H2, bà L, bà C có mặt, bà A, N có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa tuyên án, các đương sự còn lại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, ý kiến trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông H2 - người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2014, ông h và vợ là Lâm Thị T có nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị C một lô đất có diện tích 140m², thuộc thửa số 419, tờ bản đồ 38 tọa lạc tại xã Đ, huyện N, là lô đất tái định cư xã Đ với số tiền 200.000.000đ. Thời điểm này, lô đất chưa được cấp GCNQSD đất, và bà C đã tiến hành giao đất có cắm trụ bốn góc giao cho ông H2 quản lý từ đó tới nay. Hiện trạng đất lúc đó là mảnh đất trống, ông H2 trồng rau cải, thường xuyên đến chăm sóc rau. Đến ngày 19/9/2017, bà C làm thủ tục chuyển nhượng cho bà T, chỉnh lý trang 4 theo quy định khi bà C đã được nhà nước cấp GCNQSD đất vào ngày 11/8/2017.
Ngày 05/12/2017, ông H2 thấy xuất hiện trên thửa đất của ông có một căn nhà tạm làm bằng sắt khoảng 15m² (3x5), không có người ở và qua tìm hiểu được biết là do bà Lê Thị L dựng lên. Ông H2 làm đơn khiếu nại đến chính quyền địa phương, yêu cầu bà L dỡ nhà trả lại đất. Tại địa phương, cán bộ hòa giải khuyên bà L nên tháo dỡ nhà trả đất cho ông H2, nhưng bà L không chịu.
Nội dung trong tờ giấy “cam kết giao nhận tiền” ngày 02/6/2014 mà bà L cung cấp cho tòa, thể hiện có việc bà L mua đất của ông D và ông D phải có trách nhiệm với bà L, chứ không nói bà C có trách nhiệm với bà L, không nói bà C nhận tiền của Bà L. Điều này, chứng tỏ tại thời điểm lập giấy cam kết nhận tiền nêu trên với bà L thì không có mặt bà C và bà L không biết bà C là ai. Bà L ký tên có ghi rõ họ tên thì phải chịu trách nhiệm với nội dung bà đã viết trên chữ ký đó.
Bà L có thừa nhận chữ viết, chữ ký của bà và cũng có phần không thừa nhận chữ viết, chữ ký của bà L trong tờ giấy “cam kết giao nhận tiền” ngày 02/6/2014. Tất cả đều đã được giám định chữ viết, chữ ký 03 lần tại CA tỉnh Đ và tại Bộ C4 theo quy định.
2
Nay, bà T yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị L phải tháo dỡ căn nhà theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và chứng thư thẩm định giá để trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà đối với thửa số 419, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Về các yêu cầu độc lập của bà L đối với bà C, UBND huyện N thì bà T không đồng ý, vì bà C đã chuyển nhượng (chuyển quyền sử dụng đất) cho vợ chồng bà đúng theo quy định pháp luật và được nhà nước công nhận. Đó là việc riêng giữa bà L và bà C, không liên quan đến vợ chồng bà.
* Theo bản tự khai, ý kiến trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, bà A - người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Vào tháng 6 năm 2014, bà Lê Thị L biết bà Lê thị C1 đang muốn bán lô đất tái định cư tại xã Đ huyện N, nên hai bên gặp nhau bàn bạc và bà L đồng ý mua với giá 350.000.000đ, nhưng với điều kiện khi nào bà C1 có Biên bản giao đất của Trung tâm phát triển quy đất thì mới làm giấy mua bán tay và khi bà C1 được cấp GCNQSD đất thì ký hợp đồng chuyển nhượng theo đúng thủ tục cho bà L để bà L được đứng tên trong GCNQSD đất.
Ngày 02/6/2014 bà L có đến hiện trạng đất và giữa hai bên tiến hành thủ tục ký giấy chuyển nhượng đất và giao cho bà C1 nhận số tiền 350.000.000 đồng như thỏa thuận, bà C1 ký tên và lăn tay. Sau khi nhận tiền xong, bà C1 bàn giao đất cho bà L, kèm theo các giấy tờ liên quan đến thửa đất gồm: Biên bản giao đất ngày 02/6/2014 (bản chính); Thông báo số 133/ TB-TTPTQĐ ngày 28/5/2014 (bản sao); Đơn xin xác nhận thừa kế bốc thăm nhận nền tái định cư, có chữ ký của các con bà C1 (bản sao).
Khi mua đất, bà L có tìm hiểu và biết đất này cấp cho vợ chồng bà C1, do ông Huỳnh văn T1 chồng bà đứng tên. Ông T1 mất năm 2010, nhưng bà C1 nói rằng các con bà đồng ý cho bà được toàn quyền quyết định việc chuyển nhượng lô đất này, nên bà L mới đồng ý mua.
Sau khi nhận đất, khoảng tháng 9 năm 2014, bà L đã cất một căn nhà nhỏ vách tôn để gia đình bà lui tới trông giữ đất. Đến tháng 12 năm 2017, bà đi đăng ký tạm trú tại địa chỉ đất (có xác nhận của công an xã Đ), và ký các hợp đồng cung cấp điện với Điện lực huyện N (có hợp đồng).
Sau khi mua đất từ năm 2014 đến nay, bà L cũng có nhiều lần liên lạc với bà C1 hỏi lô đất này đã được cấp GCNQSD đất chưa, để cùng làm thủ tục chuyển quyền như đã cam kết thì bà C1 nói rằng chưa làm được và hứa khi nào được cấp giấy sẽ cho bà L biết để ký kết hợp đồng, nhưng đến khoảng giữa năm 2017 thì bà C1 né tránh, nên bà L không liên lạc được, cho đến khi bà Lâm Thị T gửi đơn ra UBND xã tranh chấp với bà L thì bà L mới biết bà C1 đã được cấp giấy vào năm 2017 mà không thực hiện đúng cam kết với bà L, lại làm hợp đồng chuyển nhượng cho bà T.
Bà C1 đã chuyển nhượng cho bà L thửa đất này từ năm 2014, đã nhận tiền đầy đủ và bàn giao cho bà L sử dụng từ đó đến nay. Sau khi được cấp giấy, bà C1 bán tiếp thửa đất này cho bà T là vi phạm cam kết trong giao dịch dân sự. Việc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy cho bà T (đăng ký biến động, chỉnh lý trang 4) khi bà L đang ở trên đất là không đúng quy định gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L. Vì vậy, bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T và có yêu cầu độc lập đối
3
với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà C1 và UBND huyện N, yêu cầu cụ thể:
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị C và bà Lâm Thị T đối với diện tích 140 m² thửa số 419, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã Đ, huyện N.
- Yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị C và bà Lê Thị L và công nhận QSD đất cho bà L đối với diện tích 140 m² thửa số 419, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã Đ, huyện N.
- Hủy một phần GCNQSD đất số CH 679419 (phần chỉnh lý trang 4) do UBND huyện N cấp cho bà Lê Thị C ngày 11/8/2017 đối với diện tích 140 m² thửa số 419, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã Đ, huyện N.
* Theo công văn số 8345/UBND – TP ngày 07/12/2018 UBND huyện N – người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến như sau:
Ngày 22/6/2017, bà Lê Thị C có đơn xin giao đất và đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất. Đến ngày 14/7/2017, UBND xã Đ thống nhất kiến nghị UBND huyện xem xét tờ trình 122/TTr-UBND ngày 13/7/2017. Theo hồ sơ xin giao đất và đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất của bà Lê Thị C.
Ngày 04/8/2017, UBND huyện ban hành Quyết định số 4825/QĐ-UBND về việc giao đất có thu tiền sử dụng đất cho bà Lê Thị C thuộc thửa 419, tờ bản đồ số 38 xã Đ với diện tích 140m2 đất ở nông thôn. Sau đó, ngày 11/8/2017, UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 679419 cho bà Lê Thị C.
Bà Lê Thị C đã lập thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lâm Thị Tuyết t 419, tờ bản đồ số 38 xã Đ. Hợp đồng được Văn phòng C5 chứng thực ngày 19/7/2017 (theo hồ sơ số 002031.CN 005 ngày 27/9/2017 do Văn phòng Đ chi nhánh N3 xác nhận).
Qua kiểm tra hồ sơ, nhận thấy việc UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 679419 mang tên bà Lê Thị C đúng trình tự thủ tục theo quy định. Do đó, việc bà Lê Thị L yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên, đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Theo bản tự khai, ý kiến trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, ông H2 - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông đồng ý thống nhất với nội dung và yêu cầu khởi kiện của bà T (vợ ông), yêu cầu bà Lê Thị L phải tháo dỡ căn nhà tiền chế (3m X 5m) để trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà đối với thửa số 419, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Về các yêu cầu độc lập của bà L đối với bà C, UBND huyện N thì ông không đồng ý, vì bà C đã chuyển nhượng (chuyển quyền sử dụng đất) cho vợ chồng ông đúng theo quy định pháp luật và được nhà nước công nhận. Đó là việc riêng giữa bà L và bà C, không liên quan đến vợ chồng ông.
* Theo bản tự khai, ý kiến trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, bà C - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Vào năm 2014, bà C có nhận được một lô đất tái định cư (Lô 8 dãy BT-SL7, với diện tích 140m², thuộc thửa số 419, tờ bản đồ 38 tọa lạc tại xã Đ, huyện N). Bà C có
4
nhờ người cậu ruột là ông Trần Văn D - người làm chứng trong vụ án- bán dùm lô đất trên khi bà C vừa mới nhận nền đất tái định cư do vừa bốc thăm giao nền đất, vì hoàn cảnh gia đình bà C lúc đó rất khó khăn, chồng bà C bị chứng ung thư bao tử, đã phải bán luôn cả căn nhà đang ở để chạy chữa những vẫn không khỏi (đã chết). Sau đó, ông D tự tìm người mua và tự bán, chính ông D là người liên hệ trực tiếp với bà Lê Thị L để bán lô đất trên và cũng chính ông D nhận tiền trực tiếp từ bà L. Việc thỏa thuận này diễn ra giữa ông D với bà L chứ bà C không được biết và cũng không nhận tiền từ ông D hay bà L.
Sau khi bà C nhờ ông D bán thửa đất, vì quá lâu vẫn không thấy bán được, bà C có đến nhà đòi lại biên bản giao đất tái định cư ngày 02/6/2014 (bản chính), ông D nói rằng đã mất. Bà C đến Trung tâm quỹ đất xin bản P để làm thủ tục cấp sổ hồng. Sau đó bà C bán thửa đất trên cho bà Lâm Thị T, bà C dẫn bà T đến thửa đất cắm trụ, bàn giao cho bà T quản lý sử dụng. Khi đó vẫn còn là đất trống.
Về giấy “cam kết giao nhận tiền” ngày 02/6/2014 là do ông D yêu cầu bà C ký khống và lăn tay vào trước để tìm được người sẽ bán lẹ hơn, chưa điền bất cứ nội dung nào cả (chỉ là giấy trắng). Ở trang hai của tờ giấy, ông D kêu bà C ký đại ở gần giữa trang, còn phần phía trên đó nội dung để trống. Tin tưởng ông D là cậu, sẽ không “Lừa gạt” nên bà C đã ký vào.
Hôm bà C đến nhà ông D. Lúc đó, chỉ có ông D và vợ của ông D là bà L1. Ông D không rành chữ nên bà L1 là người ghi nội dung trong một tờ giấy trắng. Bà C không biết là nội dung gì vì bà C không rành chữ và cũng chì được nghe vợ chồng ông D thuật lại nội dung. Sau khi yêu cầu bà C ký xong, ông D giữ luôn tờ cam kết nói trên. Một thời gian sau, ông D yêu cầu bà C đến nhà ông lấy giấy, thì bà C đem về nhà cho con của bà đọc và có biết được nội dung dòng chữ 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng). Bà C kêu con trai lại nhà ông D hỏi tại sao bà C không có nhận 350.000.000đ mà lại ghi như thế thì ông D trả lời là số tiền đó ghi chỉ hình thức thôi, và vì đất chưa có sổ đỏ nên bà L chưa chịu giao số tiền 350 triệu, vì thế trong ô dành cho chữ ký của “người giao tiền” vẫn còn để trống. Mãi cho đến khi tòa thụ lý giải quyết mời bà C lên tòa thì bà C mới biết là trong tờ giấy nêu trên là có chữ ký của bà L và thực tế bà C không nhận được một đồng tiền nào của bà L từ đó cho đến nay.
Toàn bộ nội dung trong tờ giấy trên là do ông D đạo diễn tự viết, tự làm, tự nhận tiền, tự mua, tự bán với bà L, bà C hòan toàn không hay biết gì cả.
Bà C khẳng định không bán thửa đất trên cho bà L. Bà C chưa từng gặp mặt bà L. Không biết bà L là ai, bà C không nhận tiền từ bà L. Bà L lại khai với tòa là đã trực tiếp trao 350 triệu cho bà C, bà C khẳng định đây là một sự lừa đảo có tổ chức giữa bà L và ông D. Giấy cam kết này là giả mạo, do ông D làm ra để hãm hại bà C hòng chiếm đoại tài sản của bà C. Bà C yêu cầu tòa án làm sáng tỏ thực hư về số tiền 350 triệu, xem bà L có thực sự đã bỏ ra số tiền 350 triệu để mua thửa đất của bà C hay không, nếu có thì bà đã đưa cho ai, chứ còn đối với bà C thì bà C chưa từng nhận từ bà L 01 đồng nào.
Bà Cử chỉ biết bán đất cho bà T và nhận tiền từ bà T, bà C không biết bà L là ai và không trực tiếp mua bán với bà L. Việc mua bán đất giữa bà C và bà T đã hoàn
5
thành, tranh chấp giữa bà T và bà L, bà C không có ý kiến và không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Ông Huỳnh Văn T2 là chồng bà mất năm 2010. Thời điểm này, lô đất tái định cư chưa được cấp giấy. Theo bà C được biết là do nhà nước chưa hoàn tất giải phóng mặt bằng nên chưa cấp giấy cho các hộ liên quan, trong đó có gia đình bà C. Năm 2014, bà C chuyển nhượng lô đất đó cho bà T trên thực tế, nhưng đến ngày 19/9/2017, bà C mới làm thủ tục chuyển nhượng cho bà T, chỉnh lý trang 4 theo quy định khi bà C đã được nhà nước cấp GCNQSD đất vào ngày 11/8/2017.
Về các yêu cầu độc lập của bà L đối với bà C, UBND huyện N thì bà không đồng ý, vì bà C không có mua bán gì với bà L, bà C không từng biết bà L là ai. Và việc chuyển nhượng đất cho bà T là hợp pháp, được nhà nước công nhận. Chỉ vì quá tin tưởng cậu ruột là ông D nên mới xảy ra tranh chấp hôm nay.
* Theo bản tự khai, bản ý kiến trong quá trình tiến hành tố tụng, ông Trần Văn D – Người làm chứng trình bày:
Năm 2014, bà Lê Thị C muốn bán lô đất tái định cư tại xã Đ huyện N, nên có nhờ ông giới thiệu dùm người mua đất, đến khi ông D biết bà Lê Thị L có nhu cầu mua đất nên giới thiệu với bà C. Hai bên hẹn gặp nhau tại nhà của ông D bàn bạc và bà L đồng ý mua với giá 350.000.000đ, nhưng với điều kiện khi nào bà C có biên bản giao đất của Trung tâm phát triển qũy đất thì mới làm giấy mua bán tay và khi nào bà C được cấp GCNQSD đất thì sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng theo đúng thủ tục cho bà L, để bà L được đứng tên trong GCNQSD đất.
Ngày 02/06/2014, giữa bà L và bà C tiến hành thủ tục ký giấy giao nhận tiền chuyển nhượng đối với lô đất tái định cư, bà C có ký tên và lăn tay, bà C nhận đủ số tiền 350.000.000 đồng. Sau đó, bà C có gửi cho ông D ít tiền giới thiệu bán đất nhưng ông từ chối vì thấy bà C khó khăn.
Sau khi nhận đất, vào năm 2014 bà L cất luôn một cái chòi bằng tôn có nhờ ông D trông coi đất dùm, bà L có dặn ông D khi nào biết bà C được cấp GCNQSD đất thì báo cho biết dùm để ký hợp đồng chuyển nhượng với bà C.
Khoảng năm 2016, 2017 bà C có nói với ông D, nhắn cho bà L đưa cho bà thêm 50.000.000 đồng nữa mới ký hợp đồng, ông D có báo cho bà L nhưng bà L không đồng ý. Sau đó nguyên nhân nào giữa hai bên phát sinh tranh chấp thì ông D không biết.
Đến năm 2017 bà L dỡ bỏ chòi cũ cất nhà tôn lớn hơn như hiện tại.
Chữ viết trong giấy mua bán đất giữa bà L và bà C do vợ ông D viết dùm.
Lý do trong giấy nhận tiền mua bán đất giữa bà C và bà L có nhắc đến 2 lô đất của bà L mua của ông D trước đây, là vì ông D có bán cho bà L 2 lô đất cũng đã giao xong, còn lô đất của bà C là hai bên trực tiếp giao dịch mua bán ông D không có liên quan hay trách nhiệm gì nữa. Bà C có ký tên lăn tay về nội dung này tổng cộng bà C có 2 lần ký tên và lăn tay.
* Theo bản ý kiến ngày 02/7/2020 của bà Trương Thị Hồng L2 (vợ ông D trình bày:
Ngày 02/06/2014, hai bên gồm bà Lê Thị C và bà Lê Thị L tiến hành thủ tục ký giấy chuyển nhượng đất và giao tiền tại nhà bà L2.
6
Lúc đó chồng bà L2 là ông Trần Văn D nói với bà “hai người này nhờ em viết dùm giấy mua bán đất và nhận tiền, thôi em viết dùm họ luôn đi”.
Bà L2 viết xong đưa cho 2 người ký tên và lăn tay, ngoài ra bà L2 không biết gì khác.
* Các con của bà Lê Thị L và ông Nguyễn Tấn C2 là Nguyễn Cẩm L3, Nguyễn Thị Thu S, Nguyễn Cẩm L4, Nguyễn Cẩm N1 đều có ý kiến trình bày:
Tiền mua đất của bà Lê Thị C trong vụ án này là tài sản riêng của bà L và do bà L quyết định, họ không có liên quan gì và không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Trong quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị A là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác định: Trước đây, bà A có làm bản tự khai cho ông Nguyễn Tấn C2 (chồng bà L) ký tên với nội dung tiền mua đất là tài sản chung của vợ chồng bà L và ông C2, nhưng nay bà L cho rằng đó là tài sản riêng của bà và các con của bà cũng đồng ý, Nay ông C2 đã mất thì số tiền trên cũng xác định của bà L, nên không liên quan và ảnh hưởng gì đến quyền lợi của các con. Do đó, yêu cầu Tòa án không đưa các con của ông C2, bà L vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
* Các con của bà Lê Thị C và ông Huỳnh Văn T2 là Huỳnh Văn H3, Huỳnh Văn C3, Huỳnh Thị N2, Huỳnh Thị Thanh T3, Huỳnh Thị Thu H4, Huỳnh Minh T4 đều có ý kiến trình bày:
Thời điểm làm văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 17/6/2017, tại Văn phòng C6, gia đình bà C làm thủ tục khai nhận và phân chia di sản thừa kế do ông T2 mất ngày 21/01/2011 (sau thời điểm nhận lô tái định cư) thì gia đình bà C có thống nhất để lại cho C và có kêu T3 và T4 đang ở xã Đ ký tên vào các thủ tục để bà C được nhận lô đất tái định cư cho thuận tiện (vì những người con còn lại đang đi làm ăn xa tỉnh Đồng Nai không về được). Sau khi bà C bán đất cho bà Lâm Thị T thì bà C có cho tiền các con để làm vốn. Và hiện nay, các con đã về ở gần với mẹ và đi làm thuê để có điều kiện chăm sóc mẹ già.
Các con bà C cho rằng không có liên quan gì trong vụ án và không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này, đề nghị Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng.
* Tại biên bản đối chất ngày 21/01/2021 bà C có ý kiến:
Chồng bà tên là Huỳnh Văn T2 mất vào đầu năm 2011, nhưng đến năm 2014 thì bà mới nhận 01 lô đất phụ tại ấp P, xã Đ, còn lô chính thì nhận trước đó khi chồng bà còn sống và đã bán cho người khác ở C, Quận B - TP H. Gia đình bà nhận được 02 lô đất này là do đất Cù Lao của gia đình bà được đền bù để làm sân G. Khi chồng bà chết, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bà có ý định tìm người mua để bán và có nhờ cậu ruột là ông Trần Văn D tìm người mua.
Vào tháng 10 năm 2017, bà L và ông D có đến nhà bà C yêu cầu xác nhận lại về giấy nhận tiền gì đó thì bà C không đồng ý vì bà cho rằng không có bán đất cho bà L, không biết bà L là ai và cũng không nhận được tiền gì. Ngày hôm đó, phía bà L cũng có thừa nhận là chỉ biết đưa tiền cho ông D và một người tên Q (bà C không biết người này) nên bà L cho rằng họ có trách nhiệm đưa tiền cho bà C và yêu cầu phải
7
giải quyết bán đất cho bà L. Như vậy, rõ ràng không có việc mua bán trực tiếp giữa bà C và bà L và không có việc bà C đã nhận được tiền bán đất của bà L như phía bà L đã trình bày. Nếu cho rằng đã giao tiền cho ông D, ông Q nào đó thì 02 người đó sẽ có trách nhiệm với bà L, chứ không phải bà C. Hơn nữa, trong giấy cam kết nhận đủ tiền ngày 02/6/2014, bà L có ghi nội dung: “Anh D vẫn còn có trách nhiệm với tôi vì tôi chưa nhận được quyết định của lô đất cô Lê Thị C chưa được nhận 350 triệu vì lô đất chưa có sổ đỏ” và có ký tên rõ ràng. Về giấy cam kết ngày 02/6/2014, ông D yêu cầu bà C ký và lăn tay trước 03, 04 bản gì đó để ông giới thiệu bán cho lẹ và khi đó thì là giấy trắng có chữ in thôi, không có chữ viết và có chữ in theo mẫu “người giao đủ tiền”, nhưng khoảng 10 ngày sau thì ông D giao lại cho bà C thì đã có đầy chữ và đã bị xóa gạch chữ in mẫu “giao đủ tiền” viết tay lại thành chữ nhân (không phải là chữ nhận), bà C có thắc mắc thì ông D nói “không có sao, không lẽ tao là cậu ruột lại gạt mày và khi nào có người mua đưa đủ tiền 350 triệu họ sẽ ký vào chỗ người giao đủ tiền thì mày lo gì”. Bà Cử chỉ biết ký tên và ghi họ, tên còn chữ viết thì không rành.
* Tại biên bản đối chất ngày 21/01/2021 bà L có ý kiến:
Phần nội dung bà C vừa đề cập ở trên, bà L chỉ có ghi “Anh D vẫn còn có trách nhiệm với tôi vì lô đất trên chưa có quyết định và chưa ra sổ”, và bà L có ký tên ở dưới, còn tờ giấy của bà C cung cấp cho Tòa thì nội dung tiếp theo tại giấy bà C giữ, bà không có ghi, không biết ai ghi và không có ký và ghi đầy đủ họ tên của mình ở dưới.
Ngày 02/6/2014, các bên cùng lập giấy cam kết nhận đủ tiền, có mặt ông D, bà C, và bà L tại nhà ông D, bà L có giao đủ tiền trực tiếp cho bà C ngày hôm đó và bà C có đếm lại tiền, có ký tên và lăn tay tại chỗ. Giấy cam kết do ông D chuẩn bị viết trước nên bà L không biết ai viết. Giấy cam kết được lập thành 03 bản, bà L giữ 01 bản, ông D giữ 01 bản và bà C giữ 01 bản.
Năm 2017, khi UBND xã Đ mời lên làm việc, lý do bà L làm trên đất của người khác nên bà L mới biết bà C đã bán đất cho bà T, vì bà T đứng đơn thưa bà L. Năm 2014, bà L đã xây nhà tạm cấp 4 để chờ làm sổ đỏ, và nhờ người quen gần đó thăm nom (bà L không có nhớ tên, địa chỉ người đó và sẽ cung cấp cho Tòa sau). Trước đó, bà L có nhờ ông D xin chính quyền để làm nhà tạm trên đất và ông D trả lời là được bà mới tiến hành xây cất. Sau đó bà L có đi đăng ký điện, nước cùng năm 2017. Bà L có đi cùng ông D để làm thủ tục đăng ký tạm trú tại nhà ông D (khu A, ấp B, xã Đ), vì nhà xây cất chưa có số nhà, chờ khi nào có sổ đỏ thì mới đi đăng ký lại. Chỗ bà và ông D chỉ là quen biết do ông D giới thiệu bà L mua đất của gia đình bà C.
Tại buổi đối chất, bà A thống nhất nội dung trình bày của bà L, không bổ sung gì.
Tại buổi đối chất, ông H3 cung cấp 01 USB có clip cuộc nói chuyện vào tháng 10/2017 khi bà L đi cùng ông D đến gặp bà C tại nhà bà C, ông H3 có kèm bản giải trình chi tiết, để khẳng định lời trình bày của bà L là không đúng sự thật.
Bà L có ý kiến bổ sung: Do bà C nhiều lần trốn bà, không chịu làm thủ tục ra sổ cho bà, nên bà có cùng ông D đến nhà bà C nói chuyện, còn nội dung cụ thể như thế nào trong clip ông H3 vừa cung cấp cho Tòa thì bà L chưa khẳng định được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
8
Tại các biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/9/2018, 10/9/2019 và ngày 09/7/2020: Hiện trạng tài sản trên đất tranh chấp thửa 419, tờ 38, tọa lạc tại xã Đ, huyện N có 01 căn nhà tạm có cấu trúc như sau: khung sắt, vách tôn, vách ván ép, xà gồ sắt mái tôn, nền xi măng, cửa khung sắt kính, có khu vệ sinh, diện tích 140m² (ngang 07m, dài 20m), có 01 đồng hồ điện và 01 đồng hồ nước (chất lượng còn lại tại thời điểm tháng 10/2018 của nhà, đồng hồ điện và đồng hồ nước đều 75%). Tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ ngày ngày 09/7/2020 nhà không có ai ở. Ngoài ra, trên đất không còn công trình xây dựng nào khác, không có cây trồng. Đất có tứ cận như sau:
Đông giáp đường nhựa, tây giáp thửa 418, tờ 38, nam giáp thửa 420, tờ 38 và bắc giáp thửa 416, tờ 38.
Theo bản vẽ hiện trạng số 6819/2019 ngày 31/10/2019, có kiểm tra đối soát ngoài thực địa, về hình thể, ranh giới, diện tích thửa đất không thay đổi so với bản đồ địa chính được thành lập năm 2008 và được chỉnh sửa sau đăng ký hoàn thành tháng 6/2009. Đất được giới hạn qua các mốc (1,2,3,4,5,6,7,8,1), có diện tích 140m²
Ông H3, bà C đều thống nhất các kết luận giám định theo thủ tục trưng cầu giám định tại Phòng K Công an tỉnh Đ và tại Phân viện Khoa học hình sự Bộ C4 tại Thành Phố Hồ Chí Minh, bà L không có ý kiến vì cho rằng đó là việc của cơ quan nhà nước làm theo quy định, còn bản thân bà khẳng định là không có việc bà ghi những nội dung đó. Lúc đó, giấy tờ hơi lộn xộn trên bàn và thời gian quá lâu nên không nhớ rõ; Các đương sự thống nhất kết quả bản vẽ hiện trạng, thống nhất kết quả theo Chứng thư thẩm định giá số 2645/TĐG-CT ngày 15/10/2018 của Công ty Cổ phần T5 và không có ý kiến thẩm định giá lại; nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến về việc yêu cầu giải quyết hậu quả đối với các yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị C và bà Lâm Thị T; hủy một phần GCNQSD đất số CH 679419 (phần chỉnh lý trang 4) do UBND huyện N cấp cho bà Lê Thị C ngày 11/8/2017 đối với diện tích 140 m² thửa số 419, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã Đ, huyện N, còn bị đơn thì yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị A – người đại diện theo ủy quyền của bị đơn phát biểu ý kiến:
Ba giấy cam kết giao nhận tiền ngày 02/6/2014 do bà L, bà C, ông D1 mỗi người giữ một bản chính. Theo đó, bà C có ký, ghi rõ họ tên và lăn tay điềm chỉ ở phần người nhận tiền. Đồng thời, nội dung giấy cam kết nêu trên có thể hiện bà L sẽ trực tiếp giao dịch với vợ chồng ông T2; hình thức văn bản không thể canh đều ký ở dưới những dòng chữ nội dung phía trên được. Điều đó, chứng tỏ có sự giao dịch mua bán đất giữa bà L và bà C, đây là sự thật. Và Sau khi nhận tiền xong, bà C trực tiếp giao các giấy tờ liên quan đến thửa đất gồm: Biên bản giao đất ngày 02/6/2014 (bản chính); Thông báo số 133/ TB-TTPTQĐ ngày 28/5/2014 (bản sao); Đơn xin xác nhận thừa kế bốc thăm nhận nền tái định cư, có chữ ký của các con bà C (bản sao). Sự việc này, có sự thừa nhận của ông D cùng các tài liệu, chứng cứ liên quan khác do phía bà L đã khai nhận trình bày và cung cấp cho Tòa án.
Tại buổi làm việc UBND xã, bà C khai đã được cấp GCNQSD đất ngày 10/01/2018, bà C có nói là do khó khăn nên đã bán đất cho bà T mà trước đó giữa bà
9
C và bà T có giao dịch mua bán đất này vào năm 2014 rồi. Đối với thửa đất tranh chấp, bà L đã xây cất nhà, đăng ký đồng hồ điện, nước theo đúng quy định, nên quyền và lợi ích hợp pháp của bà L cần phải được bảo vệ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2022/DS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã tuyên xử:
Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 92, 147, 228, 235, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 11, 163, 164, 166, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 12, 100, 101, 105, 106, 166, 167, 168, 169, 170, 179, 188, 203 Luật đất đai năm 2013; các điều 70, 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị T về “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất” đối với bà Lê Thị L.
Buộc bà Lê Thị L phải tháo dỡ 01 căn nhà tạm, có cấu trúc: khung sắt, vách tôn, vách ván ép, xà gồ sắt mái tôn, nền xi măng, cửa khung sắt kính, có khu vệ sinh, diện tích 140m² (ngang 07m, dài 20m), có 01 đồng hồ điện và 01 đồng hồ nước (chất lượng còn lại tại thời điểm tháng 10/2018 của nhà, đồng hồ điện và đồng hồ nước đều 75%) để trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Lâm Thị T, ông Nguyễn Ngọc H1 đối với thửa số 419, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, yêu cầu công nhận QSD đất, hủy GCNQSD đất” của bà Lê Thị L đối với bà Lê Thị C và UBND huyện N.
* Về chi phí thu thập tài liệu, chứng cứ, xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá: Bà Lê Thị L phải chịu 18.748.280 đồng được làm tròn là 18.748.000 đồng, nhưng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử ghi nhận việc ông H1 tự nguyện chịu chi phí tố tụng này, nên bà L không phải hoàn lại cho ông H1 theo quy định.
Chi phí ba lần giám định, giám định lại, giám định bổ sung, bà L phải chịu và đã quyết toán đủ.
- Về án phí: Bà Lê Thị L không phải chịu 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với 05 yêu cầu không giá ngạch, vì thuộc đối tượng được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí dân sự theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
H5 lại cho bà Lâm Thị T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 5.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 003680 ngày 15/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
H5 lại cho bà Lê Thị L số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bổ sung là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 004117.
Ngày 08/9/2022 bà Lê Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
10
Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà T: Việc bà T nhận chuyển nhượng và sử dụng, đăng ký kê khai quyền sử dụng đất là có căn cứ phù hợp pháp luật nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà L, giữ nguyên án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Bà L kháng cáo đề nghị sửa toàn bộ án sơ thẩm nhưng không có chứng cứ nào mới chứng minh, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử xác định bà T nhận chuyển nhượng và sử dụng, đăng ký kê khai quyền sử dụng đất là có căn cứ phù hợp pháp luật nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà L, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng, tư cách đương sự và quan hệ pháp luật: Tòa án cấp sơ thẩm xác định chính xác và đầy đủ. Bà Nguyễn Thị A, ông Nguyễn Ngọc H1, bà Lê Thị C và Ủy ban nhân dân huyện N có đơn xin xét xử vắng mặt nên xét xử vắng mặt.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị L nhận thấy:
Tại tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện: Bà L, bà C và ông D đều thừa nhận nội dung của “ Giấy cam kết giao nhận tiền” được lập ngày 02/6/2014, được lập thành 03 bản chính, do bà L, bà C, ông D giao nộp cho Tòa án; và tại biên bản đối chất ngày 27/8/2018 thì bà L, bà C và ông D đều thừa nhận lô đất phụ đề cập trong giấy cam kết giao nhận tiền ngày 02/6/2014 chính là lô đất tái định cư (Lô 8 dãy BT-SL7, với diện tích 140m², thuộc thửa số 419, tờ bản đồ 38 tọa lạc tại xã Đ, huyện N) mà bà L cho rằng bà C đã chuyển nhượng cho bà L, rồi bà C tiếp tục chuyển nhượng cho bà T. Bà L xác định bà mua đất là để ở nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh xác định: Bà L không phải là người địa phương, đăng ký tạm trú trong hộ của ông D (người làm chứng trong vụ án), nhưng không sinh sống tại nơi đăng ký tạm trú nêu trên, cụ thể tại biên bản xác minh ngày 20/10/2020, Công an xã Đ xác nhận: Bà L, có hộ khẩu thường trú tại đường N, phường A, Quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh, không có cư trú sinh sống thực tế tại địa phương. Ngày 04/12/2017, bà L có đi đăng ký tạm trú tại khu A, ấp B, xã Đ, huyện N (số tạm trú: 190017049) do ông Trần Văn D chủ hộ đứng ra bảo lãnh (số HKTT: 190038381) cho bà L tạm trú nơi cư trú của ông D. Cũng theo tài liệu, chứng cứ do bên bà L cung cấp thể hiện sau đó 02 ngày (tức là ngày 06/12/2017), bà L làm thủ tục đăng ký điện, nước tại Điện lực N – Công ty TNHH MTV T5 nên bà L cho rằng bà có sử dụng đất.
11
Do đó khoảng tháng 9 năm 2014, bà L đã cất một căn nhà nhỏ vách tôn để gia đình bà lui tới trông giữ đất. Như vậy, theo chứng cứ trên thì thời điểm này, nhà chưa đăng ký điện, nước suốt hơn 03 năm. Tuy nhiên, bà L không hề đi trình báo làm đơn xin xây dựng nhà trên đất Thời điểm bà C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vào ngày 11/8/2017 theo tờ Trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 2330/2017 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh N3 thực hiện ngày 08/5/2017 (Tờ trình số 908/TTr-TNMT ngày 09/8/2017 của Phòng Tài nguyên và môi trường huyện N), và trên GCNQSD đất không có thông tin ghi nhận có nhà ở, công trình xây dựng khác. Đến ngày 19/9/2017, bà C làm thủ tục chuyển nhượng cho bà T, chỉnh lý trang 4 theo quy định. Tại biên bản xác minh ngày 20/10/2020, UBND xã Đ có xác nhận: Thời điểm năm 2014, bà L không có làm đơn gửi UBND xã Đ về việc xây dựng nhà trên đất thửa 419, tờ bản đồ 38, tọa lạc tại ấp P, xã Đ, huyện N. Đồng thời, cũng không có đơn khiếu nại liên quan đến việc xây dựng nhà của bà L. Việc xây dựng nhà ở khu tái định cư được miễn giấy phép xây dựng, chỉ cần làm đơn gửi UBND xã Đ. Qua kiểm tra hồ sơ, hiện tại UBND xã không có đơn xin xây dựng của bà Lê Thị L vào năm 2014. Bà L cho rằng việc dựng nhà trên đất của bà L, địa phương có biết vì bà có xin phép và khi xây dựng, chính quyền địa phương có đến cho phép xây tạm, không cho xây kiên cốnhưng bà L không có chứng cứ chứng minh và không được các đương sự khác thừa nhận.
Bà L cho rằng hai bên gặp nhau bàn bạc và bà L đồng ý mua với giá 350.000.000đ, nhưng với điều kiện khi nào bà C có Biên bản giao đất của Trung tâm phát triển quỹ đất thì mới làm giấy mua bán tay và khi bà C được cấp GCNQSD đất thì ký hợp đồng chuyển nhượng theo đúng thủ tục cho bà L để bà L được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh và không được sự thừa nhận của bà C.
Ngoài ra, trong hồ sơ vụ án, bà L có trình bày: Sau khi bà L nhận đất vào năm 2014, bà L cất luôn một cái chòi bằng tôn có nhờ ông D trông coi đất dùm, bà L có dặn ông D khi nào biết bà C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì báo cho biết để ký hợp đồng chuyển nhượng với bà C, nhưng chính bà L cũng có lời trình bày tại biên bản đối chất ngày 21/01/2021 là bà L có nhờ người quen gần đó thăm nom đất mà không nhớ tên và địa chỉ, trong khi qua xác minh bà L tạm trú nhà ông D và ông D có thừa nhận bà L có nhờ ông thăm nom. Bà L còn khai trước khi dựng nhà vào tháng 9/2014, bà đã đăng ký tạm trú tại nhà của ông D để ổn định cuộc sống, nhưng tại biên bản xác minh của Công an xã Đ thì bà L đăng ký tạm trú tại nhà ông D là vào ngày 04/12/2017. Điều này thể hiện việc không thành thật, có lời khai mâu thuẫn của chính bà L.
Ông D thì xác định: Khoảng năm 2016, 2017 bà C có nói với ông D, nhắn cho bà L đưa cho bà thêm 50.000.000 đồng nữa mới ký hợp đồng, ông D có báo cho bà L nhưng bà L không đồng ý. Sau đó nguyên nhân nào giữa hai bên phát sinh tranh chấp thì ông D không biết. Lời khai này của ông D không được sự thừa nhận của bà C và không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho trình bày trên.
Xét thấy, 03 giấy “Cam kết giao nhận tiền” cùng ghi 1 ngày là ngày 02/6/2014, hiện do ông D, bà L, bà C giao nộp cho Tòa án đều là bản chính, nhưng có vài nội
12
dung không giống nhau, nên lời thừa nhận cũng không thống nhất. Đồng thời vào ngày 02/6/2014, bà C mới nhận được biên bản giao đất tái định cư tại UBND xã Đ. Điều đó chứng tỏ ngày lập giấy cam kết nêu trên không có mặt đủ bà L, bà C và ông D và không cùng thời điểm lập vì có tình tiết đối với giấy cam kết ông D giữ còn có nội dung ghi “vì đã quá lâu rồi”. Hơn nữa, giấy cam kết do bà C giữ giao nộp cho Tòa không có chữ ký của bà L bên phần người giao đủ tiền, nhưng phần trang 02 của giấy thì có đầy đủ nội dung và chữ ký, chữ viết họ tên của bà L, còn 02 giấy cam kết mà bà L, ông D giữ, nộp cho Tòa thì lại có chữ ký và chữ viết của bà L bên phần người giao đủ tiền. Mặt khác, bà C là người chỉ biết ký tên và ghi họ tên của mình, nên lẽ ra phải có ít nhất hai người làm chứng không có mối quan hệ thân thích của các bên chứng kiến ký vào giấy cam kết giao nhận tiền nêu trên mới đảm bảo tính khách quan. Xét về 02 giấy cam kết giao nhận tiền mà ông D và bà L giữ về cơ bản giống nhau và xoay quanh nội dung: Bà L có mua đất của ông D, ông D vẫn còn có trách nhiệm với bà L, vì đất chưa có sổ đỏ.. trong khi giấy cam kết giao nhận tiền do bà C giữ thì xoay quanh nội dung: Ông D vẫn còn có trách nhiệm với bà L, vì bà L chưa nhận được quyết định, bà C chưa nhận được 350.000.000đ tiền mà bà L cho rằng là tiền bà trả cho việc mua bán đất vì đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, nội dung trong cả ba giấy cam kết nêu trên do bà L, bà C, ông D giữ không thể hiện rõ đất giao dịch chuyển nhượng cụ thể là lô đất nào, diện tích, số tờ, sổ thửa, tọa lạc, cũng không đề cập có phải là lô đất tái định cư, lô chính, lô phụ mà phía dưới trang số 1, số 2 của ba giấy cam kết giao nhận tiền ngày 02/6/2014 đề cập.
Xét tại kết luận giám định của 03 lần trưng cầu giám định theo yêu cầu của bà L tại cơ quan chức năng đã chứng minh được việc ghi dòng chữ “Trước đây tôi mua lô đất chánh của ông D nay ông D giao lô đất phụ nếu có đóng thuế từ phụ lên chánh thì ông D đóng tiền thêm”, phần chữ viết “Anh D vẫn còn có trách nhiệm với tôi vì lô đất trên chưa có quyết định và chưa ra sổ” theo giấy cam kết giao nhận tiền ngày 02/6/2014 do bà L giữ, giao nộp cho Tòa và phần nội dung chữ “Anh D vẫn còn có trách nhiệm với tôi vì tôi chưa nhận được quyết định của lô đất cô Lê Thị C chưa được nhận 350 triệu vì lô đất chưa có sổ đỏ” trong giấy “cam kết giao nhận tiền” ngày 02/6/2014 do bà C giữ, giao nộp bản chính cho Tòa án đều do một người viết ra là bà L và phần chữ ký, chữ viết tên Lê Thị L phía dưới đoạn viết nêu trên không bị cắt ghép hoặc sửa chữa.
Bên cạnh đó, bà L cho rằng đã nhận chuyển nhượng từ bà C đối với thửa đất trên từ năm 2014, nhưng bà L không làm thủ tục pháp lý và không đăng ký biến động với cơ quan chức năng, không hoàn thành nghĩa vụ theo quy định pháp luật, điều này thuộc lỗi của bà L. Theo quy định của pháp luật thì: Giao dịch dân sự là chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật Đất đai, và việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính của địa phương. Do đó việc chuyển nhượng giữa bà C và bà T đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, bà T nhận chuyển nhượng tài sản trên đã tuân thủ đầy đủ và đúng quy định của pháp luật và đã được cơ quan có thẩm quyền xác lập sang tên (chỉnh lý trang 4) cho bà T, nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà C và bà T không bị hủy, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà L không có
13
quyền yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà C và bà T, không có quyền đòi lại diện tích 140m2 từ bà T và không có căn cứ, cơ sở để xem xét công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị C và bà Lê Thị L, công nhận QSD đất cho bà L đối với diện tích 140 m² thửa số 419, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã Đ, huyện N và hủy một phần GCNQSD đất số CH 679419 (phần chỉnh lý trang 4) do UBND huyện N cấp cho bà Lê Thị C ngày 11/8/2017 là có căn cứ đúng pháp luật.
Ngoài ra, xét về 02 giấy “cam kết giao nhận tiền” ngày 02/6/2014 do bà L, ông D giữ bản chính, giao nộp cho Tòa án đều thể hiện nội dung bà L có mua ông D một lô đất chánh nay ông D giao lô đất phụ nếu có đóng thuế từ phụ lên chánh thì ông D đóng tiền thêm và ông D vẫn còn có trách nhiệm với bà L, vì đất chưa có sổ đỏ, khi nào có thì ông D phải giao cho bà L để bà L làm sổ đỏ.
Với nội dung trong giấy cam kết giao nhận tiền, nếu bà L có đủ chứng cứ để việc khởi kiện của mình có cơ sở, căn cứ thì bà L được quyền khởi kiện vụ án khác đối với ông D, bà C để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Xét thấy lời khai của bà T, ông H1, bà C phù hợp với các tình tiết, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án tiến hành thu thập theo quy định pháp luật.
Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T đối với bà L, không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà L đối với bà C và UBND huyện N là có căn cứ phù hợp với quyd dịnh của pháp luật nên không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo của bà L.
Về án phí Dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nhưng Bà L là người cao tuổi nên bà L được quyền làm đơn xin miễn án phí DSPT nhưng bà L không có đơn, do đó bà L phải chịu 300.000đ án phí DSPT.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Lê Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 92, 147, 228, 235, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 11, 163, 164, 166, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 12, 100, 101, 105, 106, 166, 167, 168, 169, 170, 179, 188, 203 Luật đất đai năm 2013; các điều 70, 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị T về “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất” đối với bà Lê Thị L.
Buộc bà Lê Thị L phải tháo dỡ 01 căn nhà tạm, có cấu trúc: khung sắt, vách tôn, vách ván ép, xà gồ sắt mái tôn, nền xi măng, cửa khung sắt kính, có khu vệ sinh, diện
14
tích 140m² (ngang 07m, dài 20m), có 01 đồng hồ điện và 01 đồng hồ nước (chất lượng còn lại tại thời điểm tháng 10/2018 của nhà, đồng hồ điện và đồng hồ nước đều 75%) để trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Lâm Thị T, ông Nguyễn Ngọc H1 đối với thửa số 419, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, yêu cầu công nhận QSD đất, hủy GCNQSD đất” của bà Lê Thị L đối với bà Lê Thị C và UBND huyện N.
Về chi phí thu thập tài liệu, chứng cứ, xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá: Bà Lê Thị L phải chịu 18.748.280 đồng được làm tròn là 18.748.000 đồng, nhưng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử ghi nhận việc ông H1 tự nguyện chịu chi phí tố tụng này, nên bà L không phải hoàn lại cho ông H1 theo quy định.
Chi phí ba lần giám định, giám định lại, giám định bổ sung, bà L phải chịu và đã quyết toán đủ.
- Về án phí: Bà Lê Thị L không phải chịu 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với 05 yêu cầu không giá ngạch, vì thuộc đối tượng được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí dân sự theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
H5 lại cho bà Lâm Thị T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 5.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 003680 ngày 15/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch,
Bà L phải chịu 300.000đ án phí DSPT nhưng khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0008355 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, bà L đã nộp xong án phí DSPT.
Hoàn trả cho bà L tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 003680 ngày 15/5/2018 và tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bổ sung là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số số 0004117 ngày 16/8/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Hà |
15
Bản án số 184/2023/DS-PT ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 184/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: o năm 2014, ông h và vợ là Lâm Thị T có nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị C một lô đất có diện tích 140m2, thuộc thửa số 419, tờ bản đồ 38 tọa lạc tại xã Đ, huyện N, là lô đất tái định cư xã Đ với số tiền 200.000.000đ. Thời điểm này, lô đất chưa được cấp GCNQSD đất, và bà C đã tiến hành giao đất có cắm trụ bốn góc giao cho ông H2 quản lý từ đó tới nay. Hiện trạng đất lúc đó là mảnh đất trống, ông H2 trồng rau cải, thường xuyên đến chăm sóc rau. Đến ngày 19/9/2017, bà C làm thủ tục chuyển nhượng cho bà T, chỉnh lý trang 4 theo quy định khi bà C đã được nhà nước cấp GCNQSD đất vào ngày 11/8/2017.
