TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:184/2023/HS-ST
Ngày 28 - 8-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
Bà Cao Hiền Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thi Phi Nga, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2023/HSST ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/HSST-QĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/HSST-QĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/HSST-QĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1976 tại thành phố Hà Nội; Đăng ký thường trú và nơi cư trú hiện nay: N2B Tập thể Đại học tổng hợp, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Giảng viên; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 14/6/2023; con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Chồng Phạm Đức D, có 03 con lớn nhất sinh năm 2003 nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không. D1 chỉ bản số: 199 ngày 03/4/2023 của Công an quận H, thành phố Hà Nội; Tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo là ông Lê Văn T2 và ông Bùi Văn T3 - Luật sư Công ty L - Đoàn luật sư thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1968; Đăng ký thường trú và nơi cư trú hiện nay: 6B4 Tập thể 51 C, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ việc sử dụng không gian chung, khoảng ngày 21 tháng 3 năm 2018, chị Đặng Thị H có thuê anh Trương Văn T4, sinh năm: 1986; trú tại: Số B ngõ E phố T, quận L, Thành phố Hà Nội đến nhà chị H tháo dỡ 1 số miếng tôn và thanh sắt của gia đình T được hàn cắm vào tường hậu nhà của chị H và chát vữa những chỗ hổng trên tường để chống thấm. Anh T5 đồng ý và hẹn ngày 24 tháng 3 năm 2018 đến làm. Anh T5 thuê anh Ngô Sĩ H1, sinh năm: 1972; Chỗ ở: Số C T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội đến nhà chị H làm cùng. Khoảng 9h30 phút ngày 24 tháng 3 năm 2018, anh T5 và anh H1 đến gặp chị H, chị H dẫn hai anh đi qua cửa hậu ra khu vực phía sau nhà chị H để làm việc. Anh T5 dùng máy cắt một vài thanh sắt gắn vào tường nhà chị H, do thấy khối lượng công việc không nhiều nên anh T5 để anh H1 ở lại làm tiếp còn anh T5 đi làm chỗ khác. Quá trình anh H1 đang tháo dỡ thì Nguyễn Thị Thu T cùng chồng là anh Phạm Đức D đi ra chửi và yêu cầu anh H1 dừng việc tháo dỡ các thanh sắt, dẫn đến vợ chồng T và chị H xảy ra cãi chửi nhau. T đã lấy một gậy tre dài khoảng 02m chọc về phía chị H và trúng vào mặt chị H gây thương tích ở vùng mặt và khi chị H đi xuống bên dưới nhặt chiếc dép bị rơi thì Thủy cầm gậy vụt về phía chị H đầu gậy trúng vào mặt sau cánh tay trái làm xây xước chảy máu. Chị H đã gọi điện thoại báo Cơ quan Công an phường đến giải quyết, Công an phường Đ đã đến mời các bên liên quan về trụ sở để làm việc. Chị H đề nghị xử lý đối với T về hành vi gây thương tích cho chị. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Thị Thu T không thừa nhận việc dùng gậy bằng tre đánh gây thương tích cho chị H. T khai khi thấy chị H chui sang phía nhà T và cẩm gạch đe dọa thì T có cầm gậy tre giơ về phía chị H nhưng không có hành vi tấn công chị H. Tài liệu điều tra còn có lời khai của anh Ngô Sỹ H2 là người có mặt và nhìn thấy T dùng gây tre vụt và chọc vào mặt gây thương tích cho chị H. Theo biên bản ngày 24/3/2018 về việc xem xét dấu vết trên thân thể của chị Đặng Thị H thể hiện: 01 vùng sưng ở mặt, ở sát mũi bên phải có đường kính khoảng 03cm bị chảy máu; 01 vùng nhiều vết xước chảy máu ở mặt sau cánh tay trái có kích thước khoảng (02×03)cm gồm khoảng 8 vết rách có kích thước khoảng (5×01)cm vết xước da, chảy máu dài khoảng 03cm ở cánh mũi bên phải; 08 vết xước phía sau cánh tay trái, mỗi vết có kích thước 5×1cm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra
Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích đối với chị H. Tại bản kết luận giám định thương tích số 406/TTPY ngày 10/5/2018 của Trung tâm P1 kết luận: Các sẹo nông mờ; Thị lực không kính: mắt phải 10/200, mắt trái: 20/160, hiện không có dấu hiệu tổn thương thực thể, kết quả khám chuyên khoa mắt không phát hiện thấy tổn thương. Do vậy không đủ căn cứ kết luận thị lực mắt phải giảm hơn mắt trái là do vụ việc ngày 24/3/2018 gây ra. Nhiều khả năng chạm thương và thương tích do vật tày, tày có cạnh gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 2%. Đối với chiếc gậy tre T sử dụng gây thương tích cho chị H hiện không thu hồi được. Về dân sự: Chị H yêu cầu bị cáo bồi thường tổn hại sức khỏe số tiền 20.000.000₫(Hai mươi triệu đồng).
Bản cáo trạng số 135/CT -VKS ngày 06/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thị Thu T về tội: "Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội đã nêu trên là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí thuốc men viện phí, tiền mất thu nhập và tổn thất tinh thần là 20.000.000đồng. Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000đồng cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Người bào chữa cho bị cáo sau khi tham gia xét hỏi và tranh luận, không có ý kiến gì về tội danh như Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Về thủ tục tố tụng: Vụ án xảy ra từ năm 2018 nhưng đến nay mới đưa vụ án ra xét xử, như vậy quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã để vụ án kéo dài, mặc dù lý do Cơ quan điều tra để vụ án kéo dài là do chờ kết quả giám định các tài liệu chứng cứ, dẫn đến bị hại bức xúc nên hai bên khó hòa giải được với nhau. Về thành phần, thời gian tại các văn bản tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiều mâu thuẫn, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã không tiến hành thủ tục tìm kiếm vật chứng của vụ án. Mặc dù những vẫn đề này không làm thay đổi bản chất nội dung vụ án nhưng người bào chữa cho bị cáo cũng phải đưa ra nhận xét để các cơ quan tố tụng rút kinh nghiệm. Về nội dung: Xuất phát từ những mâu thuẫn dân sự rất nhỏ giữa hai bên gia đình dẫn đến việc ngày hôm nay phải đưa bị cáo ra xét xử là một điều
không đáng có. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị và áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ đó là bị hại cũng có một phần lỗi. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để bị cáo có cơ hội sửa chữa những sai lầm của mình gây ra.
Bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên toà bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án thể hiện như sau: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 24 tháng 3 năm 2018 tại khu vực phía sau tường hậu nhà chị Đặng Thị H ở số F Tập thể 51 phố C, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Thị Thu T có hành vi dùng gậy tre dài khoảng 2 mét vụt và chọc về phía người chị Đặng Thị H gây thương tích cho chị H với tỷ lệ thương tích là 2%. Do đó đủ cơ sở khẳng định bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội Cố ý gây thương tích với tình tiết định tội được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là dùng hung khí nguy hiểm. Việc truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo gây ra làm mất trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại; Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền
sự, phạm tội lần đầu; Bị cáo có nơi thường trú, cụ thể rõ ràng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hại gì cho xã hội. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về phần bồi thường dân sự, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí thuốc men viện phí, tiền mất thu nhập, tổn thất tinh thần là 20.000.000đồng. Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000đồng cho bị hại nên ghi nhận. Cần tạm giữ số tiền bị cáo đã tự nguyện nộp bồi thường khắc phục hậu quả là 10.000.000đồng tại Cơ quan Thi hành án dân sự quận H.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị Thu T: 06(Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 (Mười hai) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
Về dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thị Thu T bồi thường cho bị hại là chị Đặng Thị H, sinh năm 1968; Đăng ký thường trú và nơi cư trú hiện nay: 6B4 Tập thể 51 C, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng). Tạm giữ số tiền 10.000.000đồng do bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0008801 ngày 25/8/2023 để bảo đảm thi hành án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ vào Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Tiến | Nơi nhận:
|
Bản án số 184/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 184/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu T phạm tội cố ý gây thương tích
