TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 184/2023/HS-ST Ngày: 26-12-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Kim Thành và ông Vũ Văn Diệm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Quản Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Từ ngày 21 đến ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 147/2023/TLST-HS, ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Văn K; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1982; Tại Quảng Nam; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 03/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Huỳnh Văn L và bà Trịnh Thị M (đều đã chết); Bị cáo có vợ nhưng đã lý hôn, chưa có con;Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Bà Đặng Thị L1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt.
Người làm chứng:
- - Anh Trần Minh H, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị G (mẹ ruột);
- - Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt.
- - Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1987, vắng mặt.
- - Bà Lê Thị Y, sinh năm 1989, vắng mặt.
Cùng địa chỉ nơi cư trú: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 15 phút, ngày 05/7/2023 Huỳnh Văn K đang ở phòng trọ số 4 của nhà trọ “Phương Hùng” thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì có chị Đặng Thị L1 (tên thường gọi là H là người yêu của K) đi nhậu về phòng. Sau khi về phòng K và L1 quan hệ tình dục với nhau và sau đó K và L1 ngồi nói chuyện với nhau thì xảy ra mâu thuẫn. Lúc này L1 muốn về phòng của L1 để ngủ thì K ngăn cản nên L1 lên gác ngủ còn K thì nằm võng phía dưới. Đến khoảng 01 giờ ngày 06/7/2023 thì L1 đang ở trên gác nói xuống “giờ tao đi nhậu về mày có quyền gì nói tao, cha mẹ tao không nói được tao, mày không có quyền gì nói được tao, giờ tao đi nhậu với bạn trai tao nữa”, khi nghe L1 nói vậy thì K bực tức đi đến chỗ để tủ lạnh lấy một cái chày bằng gỗ màu vàng kích thước (22 x 5)cm đang để trên nóc tủ lạnh và 01 cái kéo bằng kim loại, kích thước (20 x 10)cm, lưỡi dài 11cm, cán dài 09cm đi lên gác mục đích để đánh L1. Khi lên gác K để cái kéo gần cầu thang lên xuống và đi lại gần Lành tay phải cầm chày đánh 01 cái vào trán bên trái của L1 theo hướng từ trên xuống gây chảy máu. Khi bị đánh L1 vung tay lên bắt lấy tay K và gạt cái chày rơi sang một bên, sau đó đẩy K ngã về sau đồng thời ngồi lên bụng của K, lúc này K và L1 vật lộn với nhau, trong lúc vật lộn thì K dùng tay trái với lấy cái kéo đâm 01 cái theo hướng từ dưới lên trúng vào phần đầu bên trái của L1 rồi K bỏ kéo ra thì bị L1 cắn vào vai phải của K, K dùng tay bóp cổ L1, do thấy L1 bị chảy máu nên K dừng lại và đưa L1 xuống gác mở cửa phòng và gọi anh rể của L1 tên là Nguyễn Tấn C để đưa L1 đi cấp cứu.
Ngày 07/7/2023 L1 gọi điện thoại cho Công an phường T để trình báo sự việc. Khoảng 17 giờ cùng ngày K đến Công an phường T đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đến ngày 14/7/2023 chị Đặng Thì L2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 243 ngày 13/7/2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Thị L1 tại thời điểm giám định là 10%.
Bản Cáo trạng số 175/CT-VKS ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố Huỳnh Văn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn K mức án từ 15-18 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585 và Điều 590 của Bộ luật dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Lành các khoản chi phí điều trị thương tích, thu nhập bị mất và tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật; Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cái chày bằng gỗ màu vàng, 01 cái kéo bằng kim loại đã cũ màu đen, 01 miếng giấy dán tường; Trả lại cho bị cáo 01 cái quạt đứng hiệu Senko màu xanh đã cũ, không kiểm tra được tình trạng bên trong.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát; không tranh luận; xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại Đặng Thị L1 tại phiên tòa không thống nhất với lời khai của bị cáo; về bồi thường đề nghị bị cáo bồi thường tổng số tiền 76.726.000đồng; về hình phạt đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa Huỳnh Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng 175/CT-VKS ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố.
[3] Bị hại Đặng Thị L1 khai: Lời trình bày của bị cáo K không đúng, giữa K và chị quen biết nhau chính thức từ ngày 01/7/2023, chưa đăng ký kết hôn. Ngày 05/7/2023 K qua phòng chị dọn đồ đạc về phòng K (phòng số 4, nhà trọ Phương H1) để sống cùng nhau. Tối cùng ngày sau khi chị L1 đi chơi về giữa hai người không xảy ra cãi nhau, vì còn quan hệ tình dục với nhau, sau đó K có những hành động không nghiêm túc nên chị yêu cầu K để yên cho chị ngủ. Khoảng 11 giờ 30 phút chị L1 nằm ngủ quay mặt vào trong tường, trong lúc ngủ có vật gì tác động liên tục vào cơ thể, khi biết và cảm nhận được thì phát hiện K đang dùng dây xiết cổ chị, lúc này chị dùng 02 tay túm sợi dây kéo ra để thở và nói K “em thương anh mà”; sau đó K buông ra và mở khóa cửa cho chị ra ngoài để anh rể tên Nguyễn Tấn C đưa đi bệnh viện. Chị L1 khẳng định không xác định được K dùng hung khí gì gây thương tích cho chị.
[4] Người làm chứng chị Nguyễn Thị G khai: Chị G với bị B sống chung khu trọ, sự việc xảy ra giữa bị cáo K và chị L1 chị G không trực tiếp chứng kiến, chỉ biết đêm khuya ngày 05/7/2023 chị nghe điện thoại của K nói là đã gây thương tích cho L1, nhờ chị đi đến bệnh viện để lo cho L1, sau đó chị G cầm tiền của K đến bệnh viện và đóng viện phí cho chị L1.
[5] Xét lời khai của bị cáo Huỳnh Văn K và người bị hại Đặng Thị L1 mặc dù còn một số điểm mâu thuẫn với nhau, nhưng đối chiếu lời khai tại phiên tòa của bị hại L1 về những thương tích để lại trên cơ thể của chị là phù hợp với bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 243 ngày 13/7/2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B kết luận:
- - Sẹo thái dương - đỉnh trái kích thước (2 x 0,2)cm, còn chỉ khâu (H1)
- - Sẹo thái dương trái kích thước (6 x 0,2)cm, còn chỉ khâu (H1)
Các tổn thương trên có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc tác động gây ra.
- - Sẹo trán đến đuôi lông mày mắt trái kích thước (5 x 0,2)cm, còn chỉ khâu (H2)
- - Xây xước da vùng cổ kích thước (6 x 10)cm (H3)
- - Bầm vai kích thước (7 x 3)cm, vận động vai phải bình thường (H4)
Các tổn thương trên có đặc điểm của tổn thương do vật tày cứng (có thể có cạnh) tác động gây ra.
- - Thị lực: Mắt phải: 6/10 ->Kính lỗ: 7/10. Mắt trái: 7/10 -> kính lỗ: 7/10
- - Xuất huyết dưới kết mạc 02 mắt (H5)
- - Đáy mắt xung huyết
Tổn thương trên có đặc điểm của tổn thương do vật tày cứng (có thể có cạnh) tác động gây ra.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Thị L1 tại thời điểm giám định là 10%.
Cơ chế hình thành nên các thương tích trên cho thấy tương đối phù hợp với lời khai của của bị cáo K, cụ thể:
- - 02 dấu vết sẹo trên vùng thái dương đỉnh trái phù hợp với tác động từ mũi kéo có 02 cạch sắc nhọn do bị cáo K khai đâm từ dưới lên trên;
- - Dấu vết sẹo trán đến đuôi lông mày mắt trái và mắt bị xung huyết là tác động của vật tày do K cầm chày gỗ đánh vào;
- - Vết xây xước da tại vùng cổ bị hại L1 là tổn thương do vật tày cứng tác động, có vết hằn mờ không rõ ràng ở phần cổ trước, phù hợp dấu vết để lại của các ngón tay như K trình bày, không phải do dấu vết của dây xiết như lời trình bày của bị hại L1.
Như vậy, các dấu vết thương tích để lại trên người của người bị hại L1; thực nghiệm hiện trường; kết luận của cơ quan giám định phù hợp với hành động của Huỳnh Văn K đã thực hiện; phù hợp với lời khai bị cáo K và nội dung bản cáo trạng đã truy tố, cùng các tài liệu-chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, công cụ bị cáo thực hiện tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/7/2023, tại phòng trọ “Phương hùng” thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, Huỳnh Văn K dùng chày đánh vào trán bên trái; dùng kéo đâm vào vùng thái dương bên trái và dùng tay bóp cổ của chị Đặng Thị L1, gây tổn thương cơ thể là 10%. Hành vi của Huỳnh Văn K cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự.
[6] Huỳnh Văn K thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, quá trình thực hiện tội phạm bị cáo hoàn toàn nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, nhưng vì mâu thuẫn nhỏ với chị L1 trong chuyện tình cảm mà bị cáo dùng chày, kéo là những hung khí nguy hiểm gây thương tích cho chị L1, người mà chính bị cáo yêu thương. Hành vi của Huỳnh Văn K thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác là khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ. Về tỷ lệ tổn thương cơ thể hị hại Lành dưới 11% nhưng thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng sức khỏe, tính mạng của người khác.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Huỳnh Văn K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện; sau khi gây thương tích cho bị hại đã có thiện chí hỗ trợ một phần viện phí cho người bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng.
[7] Trách nhiệm dân sự:
- - Tại phiên tòa bị hại Đặng Thị L1 yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản sau:
- + Chi phí điều trị, thuốc men trong thời gian nằm viện là: 6.726.000 đồng.
- + Tiền thu nhập bị mất do không đi làm được trong thời gian điều trị thương tích từ ngày xảy ra sự việc đến hết tháng 9/2023, tính tròn là 02 tháng x 10.000.000 đồng/tháng = 20.000.000 đồng.
- + Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần: 50.000.000 đồng.
Tổng cộng là: 76.726.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi sáu ngàn đồng).
- Bị cáo Huỳnh Văn K không đồng ý bồi thường thường theo yêu cầu của bị hại L1 và cho rằng đã nhờ chị G cầm số tiền 5.000.000đồng để lo chi phí tại bệnh viện cho bị hại.
- Chị Nguyễn Thị G thống nhất lời khai bị cáo K, tại phiên tòa chị cung cấp 01 phiếu nộp tạm ứng số tiền nộp 782.000 đồng và 01 phiếu thu số tiền 217.300 đồng do Bệnh viện Q 16 ghi, cùng ngày 06/7/2023, ngoài ra không cung cấp thêm và không nhớ rõ từng khoản chi phí nào.
* Xét các yêu cầu bồi thường của bị hại Lành:
- Đối với khoản Chi phí điều trị thương tích:
Qua xác minh tại Bệnh viện tỉnh B, chị L1 nhập viện và có bảng kê chi phí điều trị từ 01 giờ 55 phút đến 02 giờ 30 phút ngày 06/7/2023, tổng số tiền: 775.309 đồng, đã nộp tạm ứng 1.000.000 đồng, người nộp là Trần Minh H (con trai bà G), anh H trình bày số tiền này do bà G đưa, phù hợp với trình bày của bà G là tiền bị cáo K đưa lo cho bị hại Lành.
Phiếu nộp tạm ứng số tiền nộp 782.000 đồng và 01 phiếu thu số tiền 217.300 đồng do Bệnh viện Q ghi, cùng ngày 06/7/2023 do chị G cung cấp tại phiên tòa cũng là tiền bị cáo K đưa lo cho bị hại Lành.
Vì vậy 03 khoản chi phí này được xác định là khoản tiền của bị cáo K bỏ ra, tổng cộng là 1.774.609 đồng.
Qua xác minh tại Bệnh viện Q, chị L1 điều trị từ 03 giờ 27 phút ngày 06/7/2023 đến 08 giờ 00 phút ngày 13/7/2023 có tổng chi phí là 4.780.664 đồng (gồm: chi phí trong danh mục bảo hiểm: 2.266.250 đồng + ngoài danh mục bảo hiểm: 438.714 đồng + các xét nghiệm và chụp CT: 2.075.700 đồng). Trong đó có phần của bị cáo K nộp là 782.000 đồng (phiếu nộp tạm ứng số U230004653 ngày 06/7/2023) và 217.300 đồng (phiếu thu số T230022985 ngày 06/7/2023).
Tổng chi phí điều trị của bị hại L1 tại 02 Bệnh viện là 5.555.970 đồng, trừ đi số tiền bị cáo K bỏ ra trước là 1.774.609 đồng, số tiền còn lại bị cáo K phải có nghĩa vụ bồi thường là 3.781.364 đồng. Như vậy, yêu cầu của chị L1 buộc bị cáo bồi thường chi phí điều trị số tiền 6.726.000 đồng chỉ được chấp nhận một phần.
- Đối với khoản bị mất thu nhập: Theo chị L1 khai trước thời gian xảy ra sự việc, tháng 6 chị L1 đã làm việc cho Công ty K1; Địa chỉ: khu công nghiệp Đ, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước có mức thu nhập bình quân 5.000.000đồng/ tháng. Nhưng do thu nhập không ổn định nên chị L1 nghỉ để xin làm việc nơi khác.
Trước ngày 06/7/2023 (không nhớ ngày cụ thể) chị L1 đã phỏng vấn trên Room do Công ty TNHH Y1 tổ chức chị đã đạt, sau đó công ty hẹn ngày 06/7/2023 đến phỏng vấn trực tiếp nhưng ngay ngày này chị bị Huỳnh Văn K đánh trọng thương nên không đi phỏng vấn được; thời gian sau khi điều trị khỏe chị L1 đi phỏng vấn lại và được nhận vào làm với mức lương được Công ty TNHH Y1 trả bình quân là 10 triệu đồng/tháng, đã làm từ tháng 10/2023 đến nay được 3 tháng.
Căn cứ cái tài liệu chứng cứ chị L1 cung cấp Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận mức yêu cầu thu nhập trung bình là 10 triệu đồng/tháng x 2 tháng = 20.000.000 đồng.
- Khoản yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Dân sự, mức bồi thường tối đa không quá 50 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định. Mức lương cơ sở hiện hành là 1.800.000 đồng/tháng, chị L1 bị tổn thương cơ thể mất 10% nên chấp nhận mức 10 tháng lương cơ sở là phù hợp. Như vậy khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho chị L1 là 18.000.000 đồng
Tổng các khoản yêu cầu bồi thường của bị hại Đặng Thị L1 được chấp nhận và buộc bị cáo K phải bồi thường là 41.781.364 đồng.
[8] Về vật chứng vụ án:
- - 01 cái chày bằng gỗ màu vàng, đã cũ, 01 cái kéo bằng kim loại đã cũ màu đen là công cụ phạm tội; 01 miếng giấy dán trường đã cũ không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 cái quạt đứng hiệu Senko màu xanh đã cũ, không kiểm tra được tình trạng bên trong, không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn K 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2023.
- Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585 và Điều 590 của Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Huỳnh Văn K phải bồi thường cho người bị hại Đặng Thị L1 số tiền 41.781.364 đồng (Bốn mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi mốt nghìn ba trăm sáu mươi bốn đồng).
Kể từ ngày thỏa thuận có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- -Tịch thu tiêu hủy: 01 cái chày bằng gỗ màu vàng, 01 cái kéo bằng kim loại đã cũ màu đen, 01 miếng giấy dán tường.
- -Trả lại cho Huỳnh Văn K 01 cái quạt đứng hiệu Senko màu xanh đã cũ, không kiểm tra được tình trạng bên trong.
(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 0002168 ngày 28/11/2023 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Đ).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.099.933 đồng (Hai triệu không trăm chín mươi chín nghìn chín trăm ba mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Huỳnh Văn K và người bị hại Đặng Thị L1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thu Huệ |
Bản án số 184/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 184/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
