|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 184/2024/HS-ST Ngày: 24-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Huệ
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 174/2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Trịnh Đình S; sinh năm 1985;
Giới tính: Nam; CCCD số [...]
Nơi thường trú: Số I K, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở: Số 03c/49 L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Trịnh Đình K, sinh năm 1960 và bà Hoàng Thị Ơ, sinh năm 1960;
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Nguyễn Thị Huyền L; Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án: Ngày 28/9/2015, bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 03/10/2017, chưa xóa án tích; Ngày 16/5/2019, bị TAND tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/3/2022, chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Năm 2006 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép tài sản của người khác”; Năm 2015 bị Công an T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị tạm giữ ngày 24/3/2024 đến ngày 30/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
-
Bùi Văn T, sinh năm 1996;
Giới tính: Nam; CCCD số [...];
Nơi thường trú và nơi ở: Số A T, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Bùi Văn H, sinh năm 1969 và bà Tô Thị H1, sinh năm 1970
Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba.
Có vợ là Đinh Ngọc C Anh; Chưa có con
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 02/4/2017 bị Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”.
Bị tạm giữ ngày 24/3/2024 đến ngày 30/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
-
Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 2001;
Giới tính: Nam; CCCD số 03820100899
Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện T, TP Hà Nội.
Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa : Lớp 12/12; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Cán bộ Cơ sở Cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Thanh Hóa.
Con ông Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1978; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Có vợ là Hoàng Giang H4; Có 01 con, sinh năm 2022
Tiền án, tiền sự: Không
Bị tạm giữ ngày 24/3/2024 đến ngày 30/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
-
Đỗ Văn L1, sinh năm 1999;
Giới tính: Nam; CCCD số [...];
Nơi thường trú và nơi ở: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: Lớp 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Đỗ Văn Đ, sinh năm 1971 và bà Lê Thị V, sinh năm1969
Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba. Tiền án: Không
Tiền sự: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 20/7/2022.
Bị tạm giữ ngày 24/3/2024 đến ngày 30/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Đình S: Luật sư Mai Văn B - Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.
Địa chỉ: Số G đường L, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 23/3/2024, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an huyện Đ và Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa kiểm tra nhà ở của Đỗ Văn L1 tại thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Đỗ Văn L1 và Nguyễn Ngọc H2 đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ: 01 (một) chai nhựa màu trắng, thân chai có gắn 01 ống kim loại, nắp chai gắn 01 ống nhựa màu xanh; 01 mảnh giấy bạc có bám dính xỉ màu đen; 01 bật lửa màu vàng (L1 và H2 khai nhận đây là bộ dụng cụ mà L1 và H2 vừa dùng để sử dụng ma túy hồng phiến); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, dạng bàn phím của Đỗ Văn L1; 01 điện thoại di động IPHONE 11, màu đen của Nguyễn Ngọc H2.
Ngoài ra Nguyễn Ngọc H2 khai nhận ngày 22/3/2024, H2 đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi làm việc của H2 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số A, thuộc thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tiến hành khám xét nơi làm việc, thu giữ: 01 (một) túi nilon màu trắng, viền xanh, kích thước khoảng (3x3)cm, bên trong bám dính chất màu trắng; 01 túi nilon màu hồng, trắng kích thước khoảng (5x7)cm bên trong bám dính chất màu hồng; các mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, không xác định hình dạng, kích thước (thu trong tủ đồ cá nhân của Nguyễn Ngọc H2, tại phòng cán bộ Tầng B); 01 chai nhựa màu trắng, được gắn một ống hút tự chế bằng bút bi (thu trên nóc nhà vệ sinh của cán bộ và học viên tầng 2).
Đỗ Văn L1 khai nhận ma túy mà bị cáo sử dụng là mua của Bùi Văn T. Tiến hành khám xét chỗ ở của T tại số nhà A T, P. A, TP ., tỉnh Thanh Hóa, thu giữ: 01 (một) túi nilon màu trắng, viền đỏ, kích thước khoảng (4x7)cm, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (ký hiệu K1); 01 túi nilon màu hồng có ký hiệu chữ A, kích thước khoảng (6x9)cm, bên trong đựng các viên nén hình trụ tròn màu hồng; 01 túi nilon màu xanh, kích thước khoảng (6x9)cm, bên trong đựng các viên nén hình trụ tròn màu hồng, màu xanh (Ký hiệu K2); 01 điện thoại di động IPHONE 11, màu vàng; số tiền 17.000.000đ (Mười bảy triệu đồng) của Bùi Văn T.
Tại thời điểm kiểm tra nhà T có Trịnh Đình S. S khai nhận ma túy thu giữ tại nhà T là của S. Kiểm tra xe ô tô Mazda 3, màu xanh, Biển kiểm soát: 36A-89983 của Trịnh Đình S thu giữ: 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trên có chữ Aten, kích thước khoảng (10x11)cm, bên trong đựng 02 (hai) túi nilon màu trắng kích thước khác nhau, bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ, kích thước khoảng (8x13)cm, bên trong đựng 07 (bảy) túi nilon màu trắng kích thước khác nhau, bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu xanh, viền màu đỏ, kích thước khoảng (7x9)cm, bên trong đựng các viên nén hình trụ tròn màu xanh và màu đỏ; 02 túi nilon màu trắng, kích thước khác nhau, bên trong mỗi túi đều đựng các viên nén màu xám, hình dạng không xác định (Ký hiệu M1); 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, màu xanh, Biển kiểm soát 36A-89983; 01 điện thoại di động IPHONE X, màu trắng; 01 điện thoại di động IPHONE 13 Pro, màu vàng.
* Kết quả trưng cầu, giám định:
Tại Kết luận giám định số 1290/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine bên trong chai nhựa màu trắng, thân chai có gắn 01 (một) ống kim loại, nắp chai gắn 01 (một) ống nhựa màu xanh; tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong xỉ màu đen bám dính trên mảnh giấy bạc (thu tại nhà ở của Đỗ Văn L1, kí hiệu M); chất màu trắng bám dính trong túi nilon màu trắng viền xanh, kích thước khoảng (3x3)cm, gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine; chất màu hồng bám dính trong túi nilong màu hồng, kích thước khoảng (5x7)cm, gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine; tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine bám dính trên các mảnh giấy bạc; tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine bám dính bên trong chai nhựa màu trắng và ống hút tự chế bằng bút bi (thu khi khám xét Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 nơi Nguyễn Ngọc H2 làm việc, ký hiệu M2).
Tại Kết luận giám định số 1291/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon màu trắng, có kích thước khác nhau, gửi giám định có tổng khối lượng 7,441 g loại Methamphetamine; chất tinh thể màu trắng trong 07 túi nilon màu trắng, gửi giám định, có tổng khối lượng 4,482g loại Methamphetamine; các viên nén hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 4,775g loại Methamphetamine; Các viên nén hình trụ tròn màu xanh gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,083g loại Methamphetamine; các viên nén màu xám, hình dạng không xác định có tổng khối lượng 18,722g, là ma túy loại: MDMA (Kí hiệu M1); chất tinh thể màu trắng, niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng 0,489g là ma tuý loại: Methamphetamin (ký hiệu K1); các viên nén hình trụ tròn màu hồng, có tổng khối lượng 0,971g là ma tuý loại: Methamphetamine; các viên nén hình trụ tròn màu hồng và màu xanh: các viên nén hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 16,057g là ma tuý loại: Methamphetamine; các viên nén hình trụ tròn màu xanh có tổng khối lượng 0,185g là ma tuý loại: Methamphetamine. (thu giữ của Trịnh Đình S Kí hiệu K2).
Tại Kết luận giám định số 1298/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Đỗ Văn L1, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Trọng T1.
Quá trình điều tra xác định:
* Về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Ngọc H2 và Đỗ Văn L1:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 23/3/2024, Nguyễn Ngọc H2 gọi điện thoại cho L1 hỏi L1 có ở nhà không cho H2 sang nhà L1 sử dụng ma túy hồng phiến. L1 đồng ý và bảo H2 đi đến chợ Đ1 rồi L1 sẽ ra đón. H2 đi xe taxi từ nhà H2 (ở Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) đến vị trí Lương dặn để gặp L1. Lúc này H2 hỏi L1 có chỗ nào mua ma túy hồng phiến không, mua cho H2 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) hồng phiến, rồi về nhà L1 cả hai cùng sử dụng. L1 dùng số điện thoại 0966.064.xxx của L1 gọi điện cho Bùi Văn T (số H) hỏi mua 500.000₫ ma túy hồng phiến, T đồng ý và bảo L1 chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản Ngân hàng TMCP Á1 (A1) số 19541517 của Bùi Văn T trước. L1 bảo H2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của T nên H2 chuyển số tiền 500.000đ từ tài khoản Ngân hàng TMCP Q (M1) số 0977.078.892 của H2 đến tài khoản ngân hàng của T. T lấy giấy bạc gói 03 (ba) viên hồng phiến, mang ra để tại gần thùng rác trước cổng nhà T rồi chỉ dẫn cho L1 đến lấy. L1 lái xe chở H2 đến nhà T để lấy ma túy. L1 nhặt lấy gói ma túy hồng phiến và đưa lại cho H2 rồi chở H2 đi về nhà L1 tại Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Khi về đến nhà, L1 dẫn H2 đi vào phòng ngủ của L1. Lúc này H2 mở gói giấy bạc ra thì thấy bên trong có 03 viên ma túy hồng phiến. L1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy hồng phiến từ trên cửa sổ phòng ngủ của L1, gồm một chai nước màu trắng, thân chai có gắn 01 ống kim loại, nắp chai gắn 01 ống nhựa màu xanh, 01 bật lửa, 01 mảnh giấy bạc để xuống dưới sàn nhà để L1 và H2 cùng sử dụng hồng phiến. H2 đưa cho L1 01 viên ma túy hồng phiến, L1 bỏ viên hồng phiến lên tờ giấy bạc, dùng bật lửa đốt, rồi đưa lên đầu ống kim loại trên thân chai nhựa cho H2 hút, sau đó H2 lại đốt cho L1 hút, mỗi người một lượt. Sau đó L1 và H2 tự đốt để sử dụng hết 03 viên hồng phiến. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi L1 và H2 vừa sử dụng ma túy hồng phiến xong, L1 cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên cửa sổ phòng ngủ, thì kiểm tra, phát hiện.
Thu giữ trên cửa sổ phòng ngủ của Đỗ Văn L1 các dụng cụ liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra Đỗ Văn L1 và Nguyễn Ngọc H2 đã tự nguyện xin đầu thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngoài ra Nguyễn Ngọc H2 khai nhận vào ngày 22/3/2024, H2 còn có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Thanh Hóa, thuộc thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa: Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 22/3/2024 khi Nguyễn Ngọc H2 (là bảo vệ hợp đồng Cơ sở cai nghiện) đang trong ca trực tại phòng làm việc tầng 2, phòng quản lý học viên thuộc Cơ sở cai nghiện. Nguyễn Ngọc H2 đã đi sang phòng ngủ của học viên Nguyễn Trọng T1 (đang cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định số 39/2022/QĐ-TA ngày 14/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa) ở tầng 2, khu N, gọi T1 ra ngoài và nói với T1 lát nữa đi sử dụng ma túy. T1 đồng ý (do trước đó T1 có nói với H2 khi nào sử dụng ma túy thì cho T1 sử dụng cùng). Khoảng 10 phút sau H2 cầm chìa khóa đi ra cửa phía sau khu nhà ở của Nguyễn Trọng T1 (nhà Đ2), H2 mở cửa rồi gọi T1 đi ra ngoài, dẫn T1 đi vào nhà nhà vệ sinh của phòng trực. Tại đây H2 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy hồng phiến, mà H2 đã cất giấu trên nóc nhà vệ sinh từ trước đó gồm 01 chai nhựa màu trắng không có nắp, thân chai có gắn 01 ống làm bằng vỏ bút bi màu xanh, được uốn cong và luồn giấy bạc bên trong ruột vỏ bút; 01 bật lửa; 01 mảnh giấy bạc để xuống sàn nhà vệ sinh. Sau đó H2 lấy 01 viên ma túy hồng phiến trong túi áo của H2 ra, bỏ lên giấy bạc, dùng bật lửa đốt rồi đưa lên miệng ống chai nhựa hút, H2 tiếp tục đốt cho Nguyễn Ngọc T2 hút khoảng 3-4 hơi hồng phiến, rồi H2 tự đốt để sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy hồng phiến xong H2 cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên nóc nhà vệ sinh, rồi mở cửa sau khu nhà ở của T2 (nhà Đ2) để T2 đi vào phòng ngủ, còn H2 đi về phòng trực. Quá trình khám xét nơi làm việc của H2, Cơ quan điều tra đã thu giữ được bộ D sử dụng ma túy mà H2 cất giấu trên nóc nhà vệ sinh của cán bộ, học viên Cơ sở cai nghiện.
* Về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Trịnh Đình S và Bùi Văn T:
Vào ngày 11/3/2024, Trịnh Đình S làm quen với một người nam giới có tài khoản Telegram tên là “H”. Qua nói chuyện với nhau S biết H bán ma tuý, nên đã hỏi H có ma tuý hồng phiến, ma tuý đá, ketamin và thuốc lắc bán không, H trả lời có nên S đã đặt vấn đề mua của H 3.000.000₫ ma tuý Hồng phiến; 2.000.000₫ ma tuý đá; 4.000.000₫ ma tuý thuốc lắc và 2.000.000đ ma tuý ketamin. H đồng ý bán ma túy cho S và hẹn S đi ra khu vực phố K, thuộc phường V, quận H, TP .. Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 12/3/2024 S bắt xe khách đi từ Big C, Thanh Hóa đến địa chỉ H đã hẹn. Khoảng 11 giờ cùng ngày khi đến nơi, S gọi điện liên lạc qua T3 báo cho H biết, H bảo S đứng ở gần quán trà đá ở phố K chờ (S không nhớ rõ vị trí). Khoảng 30 phút sau thì H đi xe máy đến gặp S. Tại đây H đưa cho S một túi nilon màu trắng bên trong đựng ma túy, S cầm túi ma túy cất giấu trong túi quần đang mặc và trả cho H 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) tiền mặt. Sau khi về đến nhà S mở túi nilong màu trắng đựng ma túy ra kiểm tra, thì thấy trong túi nilong có ma tuý hồng phiến, ma tuý đá, K1 và thuốc lắc. S chia nhỏ ma túy rồi cất giấu trong chiếc túi xách (dạng túi đeo) của S mục đích để bán kiếm lời.
Đến khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 22/3/2024, T dùng số điện thoại 0868.301.xxx gọi điện cho S (số I) hỏi mua của S 15 viên ma túy hồng phiến. S báo giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và hẹn sẽ mang ma túy đến nhà giao cho T. Sau đó, S lấy 15 viên gói vào trong giấy bạc, rồi mang đến nhà T ở số nhà A T, phường A, TP ., tỉnh Thanh Hóa. Khoảng 16 giờ 30 phút, cùng ngày tại cổng nhà T, S đưa cho T một gói giấy bạc bên trong có 15 viên hồng phiến, T trả cho S 1.500.000 đồng tiền mặt. Sau khi bán ma túy cho T thì S đi về nhà. T mang ma túy vào phòng ngủ mở gói giấy bạc ra lấy ra 02 (hai) viên và sử dụng hết, còn lại 13 viên Tùng để trong gói giấy bạc, cất giấu trong túi quần của T. Đến khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 22/3/2024, Đỗ Văn L1 dùng số điện thoại 0966.064.xxx gọi điện cho T hỏi mua 13 viên hồng phiến, T báo giá là 1.600.000đ và bảo L1 chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản Ngân hàng TMCP Á1 (A1) số 19541517 của T. Do Nguyễn Ngọc H2 đang nợ tiền của Đỗ Văn L1, nên L1 gọi điện cho H2 bảo H2 chuyển số tiền 1.600.000đ vào tài khoản Ngân hàng TMCP Á1 (A1) số 19541517 của Bùi Văn T và nói là tiền trả nợ. H2 đồng ý và chuyển số tiền 1.600.000đ từ tài khoản Ngân hàng TMCP Q số 0977.078.892 của Nguyễn Ngọc H2 đến tài khoản ngân hàng của Bùi Văn T. Khi H2 chuyển tiền xong thì L1 gọi điện báo cho T biết đã chuyển tiền. T kiểm tra tài khoản thấy đã nhận được tiền, nên T lấy gói giấy bạc đựng 13 viên hồng phiến mang ra để tại gần thùng rác trước cổng nhà T và gọi điện cho L1 báo vị trí cất giấu ma túy để L1 đến lấy. L1 đi xe máy đến trước cổng nhà T tự tìm gói ma túy theo chỉ dẫn của T. L1 cầm gói ma túy đi về nhà mang vào phòng ngủ của L1, một mình tự sử dụng hết 13 viên ma túy hồng phiến rồi đi ngủ.
Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 23/3/2024, T tiếp tục gọi điện cho S hỏi mua 05 (năm) viên ma tuý hồng phiến, S báo giá là 500.000đ (Năm trăm ngìn đồng). T đồng ý, nên S nói lúc nữa S sẽ mang ma túy đến nhà cho T. Sau đó S lấy 05 viên hồng phiến gói vào giấy bạc mang đến nhà T thì gặp T đang ở cổng, T đưa S 500.000₫ S đưa lại cho T gói giấy bạc đựng ma túy hồng phiến. T cầm gói ma túy mang vào phòng ngủ, mở ra kiểm tra thì thấy trong gói giấy bạc có 05 viên hồng phiến. T lấy ra 02 viên, một mình tự sử dụng hết, còn lại 03 viên Tùng gói trong gói giấy bạc, cất trong túi quần của T đang mặc.
Đến khoảng 7giờ 30 phút ngày 23/3/2024, Đỗ Văn L1 dùng số điện thoại 0966.064.xxx gọi điện cho T (số H) hỏi mua 500.000đ ma túy hồng phiến, T đồng ý và bảo L1 chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản Ngân hàng TMCP Á1 (A1) số 19541517 của Bùi Văn T trước nên L1 bảo Nguyễn Ngọc H2 chuyển 500.000đ vào tài khoản ngân hàng của T, sau khi nhận được tiền T gói giấy bạc đựng 03 (ba) viên hồng phiến (ma túy mua của Trịnh Đình S trước đó) từ trong túi quần, mang ra để tại gần thùng rác trước cổng nhà T và báo để L1 và H2 tự đến lấy mang về nhà L1 để H2 và L1 tổ chức sử dụng ma túy.
Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 23/3/2024 S gọi điện thoại cho T hỏi có ai ở nhà không để S đến chơi. T nói chỉ có mình T đang ở nhà, nên S điều khiển xe ôtô M2 3, màu xanh, BKS 36A - 899.83, mang theo (ma túy hồng phiến, ma túy đá, Ketamine, thuốc lắc) để trên xe ô tô, đi từ nhà S đến nhà của T ở Số nhà A T, phường A, TP .. Khi đến nơi S cầm theo 02 (hai) túi ma túy hồng phiến và 01 (một) túi ma tuý đá bỏ vào túi quần S đang mặc rồi đi vào phòng ngủ của T chơi. Sau khi S vào phòng được khoảng 10 phút, thì lực lượng công an đến thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của T. Do lo sợ nên S đã lấy trong túi quần ra 03 (ba) túi nilong đựng ma túy gồm: 01 (một) túi nilong màu xanh và 01 (một) túi nilong màu hồng đựng ma túy hồng phiến S cất giấu ở ô thoáng trên tường phòng ngủ của T, còn 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong đựng ma túy đá S ném ra đệm giường trong phòng ngủ của T.
Kiểm tra xe ôtô M2 3, màu xanh, BKS 36A-899.83, thu giữ trong hộp đựng đồ giữa ghế lái và ghế phụ lái thu giữ 12,299g ma túy Methamphetamine, 4,482g ketamine, 18,722g MDMA. S khai nhận đây là ma túy hồng phiến, ma túy đá, K2 và thuốc lắc của S cất giấu mục đích để bán kiếm lời.
Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra Bùi Văn T và Trịnh Đình S tự nguyện xin đầu thú về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Việc thu giữ, xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu:
- Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, màu sơn xanh, BKS 36A-89983, xác định chủ sở hữu đứng tên đăng ký là anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1988, trú tại số nhà F P, phường L, TP ., tỉnh Thanh Hóa (là em rể của Trịnh Đình S). Mạnh khai báo ngày 22/3/2024 S mượn chiếc xe ô tô trên nói đi công việc riêng, việc S cất dấu ma túy trên xe M không biết. Tra cứu dữ liệu xe vật chứng, xe không thuộc danh sách xe vật chứng. Cơ quan điều tra ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Đức M.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động IPHONE 13 Pro, màu vàng, màn hình cảm ứng, gắn sim số 0843.436.760, xác định đây là điện thoại S mượn của vợ là Nguyễn Thị Huyền L, sinh năm 1989, trú tại I K, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa, qua kiểm tra không thu giữ nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của S. Cơ quan điều tra đã ra quyết định rả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Huyền L.
- Số tiền 17.000.000đ (Mười bảy triệu đồng) thu giữ khi khám xét chỗ ở của Bùi Văn T, ngày 23/3/2024. T khai nhận là tiền cá nhân, không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Do đó, chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, để bảo quản, xử lý: các bao bì, túi nilong và các chất ma túy còn lại sau giám định; 01 chai nhựa màu trắng, thân chai có gắn 01 ống kim loại, nắp chai gắn 01 ống nhựa màu xanh; 01 mảnh giấy bạc có bám dính xỉ màu đen; 01 bật lửa màu vàng; các mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 01 chai nhựa màu trắng, được gắn một ống hút tự chế bằng bút bi; 04 điện thoại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, dạng bàn phím thu giữ của Đỗ Văn L1; 01 điện thoại di động IPHONE 11, màu đen, thu giữ của Nguyễn Ngọc H2; 01 điện thoại di động IPHONE 11, màu vàng thu giữ của Bùi Văn T; 01 điện thoại di động IPHONE X, màu trắng, thu giữ của Trịnh Đình S; số tiền 17.000.000₫ thu giữ của Bùi Văn T.
Các tình tiết khác liên quan đối với vụ án:
- Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Trịnh Đình S: S khai nhận mua của một người nam giới có tài khoản Telegram tên “H”, khoảng hơn 30 tuổi, ở TP ., vào ngày 12/3/2024 với giá 11.000.000đ, nhưng S không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể và không có số điện thoại của H. Tiến hành xác minh tại phố K, phường V, quận H, TP ., không xác định được người nam giới nào tên là H có đặc điểm nhận dạng như S khai báo. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ và xử lý đối với người nam giới đã bán ma túy cho S.
- Đối với 01 (một) viên ma túy hồng phiến mà Nguyễn Ngọc H2 và Nguyễn Trọng T1 sử dụng tại nhà vệ sinh cán bộ, học viên Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 22/3/2024. H2 khai nhận đã mua từ lâu nên không nhớ do đó không có đủ căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ về nguồn gốc viên ma túy hồng phiến trên.
- Đối với Nguyễn Trọng T1, đã thực hiện hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” cùng Nguyễn Ngọc H2. Kết quả giám định nước tiểu của T1 dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đối với T1 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định
Tại cáo trạng số 61/CT-VKS-P1, ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố:
Trịnh Đình S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bùi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015;
Nguyễn Ngọc H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, đ khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015;
Đỗ Văn L1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g,h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trịnh Đình S.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Bùi Văn T
Áp dụng điểm a,đ khoản 2 Điều 255; Điểm r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H2.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đỗ Văn L1.
Tuyên bố: Các bị cáo Trịnh Đình S và Bùi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Các bị cáo Nguyễn Ngọc H2 và Đỗ Văn L1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Đình S mức án từ 16 năm đến 17 năm tù.
Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H2 mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn L1 mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, Phạt tiền bị cáo Trịnh Đình S từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ; Phạt tiền bị cáo Bùi Văn T từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ.
Về xử lý về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ đựng, sử dụng ma túy; Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước 04 điện thoại thu giữ của các bị cáo; truy thu số tiền các bị cáo bán ma túy mà có, trả lại số tiền 17.000.000đ cho bị cáo Bùi Văn T
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Trịnh Đình S: Đồng ý với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú với cơ quan điều tra; Bị cáo có ông nội, bà nội, bố đẻ tham gia quân đội và có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận:
Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 23/3/2024, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an huyện Đ và Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa kiểm tra nhà của Đỗ Lăn L2 tại thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Đỗ Văn L1 và Nguyễn Ngọc H2 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. L1 khai nhận nguồn gốc ma túy sử dụng là mua của Bùi Văn T. Khám xét chỗ ở của Bùi Văn T tại số A T, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa thu giữ 17,702g Methamphetamine. S khai nhận số ma túy này là của S và T không biết việc S cất giấu ma túy khi thấy cơ quan điều tra.
Tiến hành khám xét xe ô tô Mazda biểm kiểm soát 36A-89983 do S điều khiển, thu giữ khối lượng ma túy là 12,299g loại Methamphetamine; 4,482g loại Ketamine; 18,722g loại MDMA. S khai nhận số ma túy thu giữ trên xe mô tô là của S. Do đó S phải chịu trách nhiệm về tổng số ma túy thu giữ quy đổi ra Methamphetamine hoặc MDMA là 50,217g; quy đổi ra Ketamine là 150,651g.
Quá trình điều tra xác định Trịnh Đình S đã 02 lần bán ma túy cho Bùi Văn T và Bùi Văn T đã 02 lần bán ma túy cho Đỗ Văn L1.
Nguyễn Ngọc H2 02 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó có 01 lần tổ chức cho Nguyễn Trọng T1 là người đang cai nghiện bắt buộc.
Đỗ Văn L1 cùng Nguyễn Ngọc H2 tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy.
Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trịnh Đình S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; Bùi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; Nguyễn Ngọc H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, đ khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015; Đỗ Văn L1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Các bị cáo S và T biết rõ ma túy là một trong những tệ nạn nguy hiểm cho xã hội, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của nhiều gia đình. Ma túy đã làm kiệt quệ về sức khỏe và tài sản, là nguyên nhân làm gia tăng tội phạm, gây lan truyền căn bệnh HIV/ADS. Các bị cáo vì hám lời nên đã mua và bán ma túy cho các con nghiện. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất gây nghiện của Nhà nước và còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Các bị cáo H2 và L1 nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện. Hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất gây nghiện của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác và còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Đối với Nguyễn Ngọc H2 đã 02 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó có 01 lần tổ chức cho Nguyễn Trọng T1 là người đang cai nghiện bắt buộc, nên phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm a, đ khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[4] Xét vai trò các bị cáo:
Bị cáo Trịnh Đình S và Bùi Văn T phạm tội với vai trò độc lập.
Bị cáo Nguyễn Ngọc H2 và Đỗ Văn L1 đồng phạm với nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy một lần, mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc và phân công nhiệm vụ chặt chẽ. Bị cáo H2 cung cấp ma túy còn bị cáo L1 cung cấp dụng cụ sử dụng nên hai bị cáo có vai trò ngang nhau.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trịnh Đình S thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy 02 lần cho Bùi Văn T vào ngày 22/3/2024 và ngày 23/3/2024. Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g,h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sư.
Các bị cáo Nguyễn Ngọc H2, Đỗ Văn L1, Bùi Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, các bị cáo đã có đơn đầu thú khai báo hành vi phạm tội. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo Trịnh Đình S có bố đẻ tham gia quân đội, có ông nội là thương binh và bà nội tham gia dân công hỏa tuyến. Do đó các bị cáo được hưởng chung tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc H2 tự thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 22/3/2024 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, tỉnh Thanh Hóa nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trịnh Đình S và Bùi Văn T bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích lợi nhuận và đã thu lời bất chính nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt các bị cáo một khoản tiền để nộp ngân sách Nhà nước như đề nghị cảu Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với các bao bì, túi nilong; 01 chai nhựa màu trắng, thân chai có gắn 01 ống kim loại, nắp chai gắn 01 ống nhựa màu xanh; 01 mảnh giấy bạc có bám dính xỉ màu đen; 01 bật lửa màu vàng; các mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 01 chai nhựa màu trắng, được gắn một ống hút tự chế bằng bút bi là những vật chứng trong vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, dạng bàn phím thu giữ của Đỗ Văn L1; 01 điện thoại di động IPHONE 11, màu đen, thu giữ của Nguyễn Ngọc H2; 01 điện thoại di động IPHONE 11, màu vàng thu giữ của Bùi Văn T; 01 điện thoại di động IPHONE X, màu trắng, thu giữ của Trịnh Đình S là công cụ để các bị cáo liên lạc mua ma túy nên tịch thu, bán nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo T mua ma túy của S 2.000.000đ, bán cho L1 2.100.000đ, thu lời bất chính 100.000đ, do đó truy thu của T số tiền 100.000đ này để sung quỹ Nhà nước. Truy thu để sung quỹ Nhà nước số tiền 2.000.000₫ mà bị cáo S đã bán ma túy 02 lần cho T.
Đối với số tiền 17.000.000đ thu giữ khi khám xét chỗ ở của Bùi Văn T. T khai nhận là tiền cá nhân, không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên trả lại cho bị cáo.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Trọng T1, đã thực hiện hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” cùng Nguyễn Ngọc H2. Kết quả giám định nước tiểu của T1 dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đối với T1 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm h khoản 3 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g,h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trịnh Đình S.
Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Bùi Văn T
Căn cứ vào: điểm a,đ khoản 2 Điều 255; Điểm r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H2.
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đỗ Văn L1.
Tuyên bố: Các bị cáo Trịnh Đình S và Bùi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Các bị cáo Nguyễn Ngọc H2 và Đỗ Văn L1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Trịnh Đình S 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2024.
- - Bị cáo Bùi Văn T 08 (T4) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2024.
- - Bị cáo Nguyễn Ngọc H2 07 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2024.
- - Bị cáo Đỗ Văn L1 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Phạt tiền bị cáo Trịnh Đình S 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Phạt tiền bị cáo Bùi Văn T 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu huỷ:
- - Một phong bì được dán niêm phong ký hiệu T1, mặt trước ghi “PC04 TC866 ngày 24/3/2024” của Phòng K3 Công an tỉnh T, được đóng dấu của Phòng K3 Công an tỉnh T;
- - Một phong bì được dán niêm phong ký hiệu T2, mặt trước ghi “PC04 TC866 ngày 24/3/2024” của Phòng K3 Công an tỉnh T, được đóng dấu của Phòng K3 Công an tỉnh T;
- - Một phong bì được dán niêm phong, mặt trước ghi “PC04 TC867 ngày 24/3/2024” của Phòng K3 Công an tỉnh T, được đóng dấu của Phòng K3 Công an tỉnh T;
- - Một bật lửa ga, màu vàng, đã qua sử dụng.
Tịch thu, bán nộp ngân sách nhà nước:
- - Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng. Điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong, thu giữ của T.
- - Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen. Điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong, thu giữ của H2.
- - Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, dạng bàn phím, số Imel 355826/01/638940/9. Điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong, thu giữ của L1.
- - Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng. Điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong, thu giữ của S.
Hiện số tang vật và tài sản đang được lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 207/2024/TV-CTHADS ngày 05/9/2024 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa với Công an tỉnh T.
Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T số tiền 17.000.000₫ (Mười bảy triệu đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 05/9/2024 của đơn vị nhận tiền là Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá với người nộp là Lê Đình V1, Phòng PC04 - Công an tỉnh T.
Truy thu của bị cáo Trịnh Đình S số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Truy thu của bị cáo Bùi Văn T số tiền 100.000đ (Một trăm ngàn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Anh |
Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 184/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý
