Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUẦN GIÁO

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Phương và bà Lò Thị Thiêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 180/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn T, tên gọi khác: Không có tên gọi khác.

Sinh ngày 26 tháng 3 năm 1969, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản Bông Ban, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Á (đã chết) và bà Tòng Thị B, sinh năm 1935; có vợ là Lường Thị D, sinh năm 1972, có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị Tòa án xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2024 đến ngày 27/6/2024, tạm giam từ ngày 27/6/2024 cho đến nay, có mặt.

2. Họ và tên: Lò Văn T1, tên gọi khác: Không có tên gọi khác.

Sinh ngày 04 tháng 11 năm 1983, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản Bông Ban, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Minh S, sinh năm 1958 và bà Lò Thị N, sinh năm 1961; có vợ là Lò Thị D1, sinh năm 1986, có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị Tòa án xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2024 đến ngày 27/6/2024, tạm giam từ ngày 27/6/2024 cho đến nay, có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn H, sinh năm 1989; địa chỉ: Bản L, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 18 giờ 00 phút, ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại bản Ten Hon, xã T, huyện T, tỉnh Điện Biên, Công an huyện T bắt quả tang bị cáo Lò Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ của bị cáo Lò Văn T 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, dạng bột nghi ma túy (loại Heroine). Tạm giữ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVES màu trắng nâu xám, biển kiểm soát 27Z1-108.52, xe đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa xe.

Ngày 18/6/2024 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: Chất màu trắng dạng cục và bột có trong 01 gói nilon màu hồng thu giữ của bị cáo Lò Văn T có khối lượng 1,13 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1074/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn T1 và Lò Văn T có khối lượng 1,13 gam chất màu trắng dạng cục và dạng bột là chất ma túy: Loại Heroine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 18/6/2024 bị cáo Lò Văn T đi bộ đến nhà bị cáo Lò Văn T1 tại bản B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên để chơi. Tại đây bị cáo T trao đổi với bị cáo T1 “bị cáo T không có xe máy, bị cáo T1 chở bị cáo T lên xã T để mua Heroine về sử dụng và bán, bị cáo T sẽ trả công cho bị cáo T1 bằng Heroine tương đương với hai trăm nghìn đồng” bị cáo T1 đồng ý. Bị cáo T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES, màu sơn trắng nâu xám, biển kiểm soát 27Z1-108.52 chở bị cáo T đi lên xã T, huyện T, tỉnh Điện Biên để tìm mua Heroine, trên đường đi bị cáo T nói bị cáo T1 mua 1.000.000đồng Heroine để về sử dụng và bán. Khi đi đến bản T, xã T, huyện T, tỉnh Điện Biên, bị cáo T1 dừng xe ở ngoài đường đợi, bị cáo T đi vào trong bản Ten Hon, xã T tìm mua Heroine. Bị cáo T gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không biết họ, tên, địa chỉ, khoảng 40 tuổi 01 gói Heroine gói bằng nilon màu hồng với giá 1.000.000đồng; việc mua bán chỉ có bị cáo T và người đàn ông đó, không có ai chứng kiến tham gia cùng. Mua được Heroine bị cáo T cầm trong lòng bàn tay phải đi bộ về, khi về đến chỗ bị cáo T1, bị cáo T giơ gói Heroine cho bị cáo T1 xem rồi bảo “mua được rồi, đi về thôi”, sau đó bị cáo T1 điều khiển xe mô tô chở bị cáo T đi về. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi bị cáo T1 điều khiển xe mô tô chở bị cáo T đang đi trên đường thuộc bản Ten Hon, xã T, huyện T thì tổ công tác Công an huyện T yêu cầu dừng xe kiểm tra đối với các bị cáo và phát hiện, bắt quả tang thu giữ của bị cáo T 01 gói Heroine gói bằng nilon màu hồng, còn bị cáo T1 không phát hiện thu giữ gì.

Cáo trạng số: 139/CT-VKSTG ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn T từ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng đến 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Bị cáo Lò Văn T1 từ 03 (ba) năm 02 (hai) tháng đến 03 năm 08 (tám) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự với các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 1,07 gam Heroine còn lại, 01 (một) mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1.

Các bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 không có lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn H vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 18/6/2024, tại bản T, xã T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Công an huyện T bắt quả tang bị cáo Lò Văn T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES, biển kiểm soát 27Z1-108.52 chở bị cáo Lò Văn T đang cất giấu trái phép 1,13 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng và bán thu lợi. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo T, bị cáo T1 biết và đồng ý điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES, biển kiểm soát 27Z1-108.52 chở bị cáo T đi mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời, vì vậy hành vi của bị cáo T1 là hành vi giúp sức cho bị cáo T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Với hành vi và khối lượng Heroine bị thu giữ, các bị cáo cất giấu trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng và bán để thu lợi thì các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị xử lý nghiêm minh nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội, vì vậy hành vi của các bị cáo phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 đồng phạm về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhưng là đồng phạm giản đơn. Bị cáo Lò Văn T là người thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lò Văn T1 là người giúp sức. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét vai trò, mức độ tham gia của từng bị cáo trong vụ án và có mức hình phạt phù hợp với từng bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 ngoài lần phạm tội này, chưa bị kết án về tội danh nào khác, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm mà các bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, các bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất và mức độ tham gia hành vi phạm tội của từng bị cáo; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần cân nhắc về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, khối lượng H1 và hành vi phạm tội đồng phạm của các bị cáo giản đơn, để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo. Hội đồng xét xử không chấp nhận mức hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên.

[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là người nghiện ma túy không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Đối với 1,07 gam Heroine (vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) mảnh nilon màu hồng là công cụ dùng vào việc phạm tội; 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Đối với một xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES màu sơn trắng nâu xám, biển kiểm soát 27Z1-108.52 (cũ đã qua sử dụng) là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội. Nhưng xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu của anh Lò Văn H, anh H không biết, không có lỗi trong việc để các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Lò Văn H là phù hợp, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T, bị cáo Lò Văn T1.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo Lò Văn T vào ngày 18/6/2024. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ điều tra xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T, bị cáo Lò Văn T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.

  • - Xử phạt bị cáo Lò Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Lò Văn T1 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • * Tịch thu tiêu hủy:
  • - 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín, bên trong chứa 1,07 (một phẩy không bảy) gam Heroine.
  • - 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh nilon màu hồng và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn H có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Tuần Giáo;
  • - CQTHAHS – Công an tỉnh Điện Biên;
  • - Nhà tạm giữ + CQCSĐT CA huyện Tuần Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giàng A Tằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 184/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn T, Lò Văn Th - phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger