TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 184/2024/HS-ST Ngày 24-6-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Từ Anh Tuấn;
- Bà Hoàng Lệ Chi.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Anh Ly, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 158/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn K, sinh năm 1969 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú: Số B, ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Tổ C, khu phố E, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; con ông Lê Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1939; bị cáo có vợ tên Bùi Thị H, sinh năm 1975 (đã ly hôn); có 02 con ruột, lớn năm 1988, nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/02/2024 cho đến nay; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu B năm 1997; địa chỉ: Số C đường X, khu phố H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đặng Phước C năm 1985; địa chỉ: Số C khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Đặng Hoàng V năm 1993 và ông Phạm Thanh T năm 1998; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 13/02/2024, Lê Văn K1 khiển xe mô tô, biển số 70K7 - 0983, kiểu dáng Wave, nhãn hiệu Wayec hướng từ đường X đến tổ F, khu phố H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dươngthì đi ngang nhà ông Đinh Hoàng V1 sinh năm 1993; địa chỉ số B, tổ F, khu phố H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình DươngLúc này, trong nhà có ông Vlông Nguyễn Hữu B1, sinh năm 1997; thường trú: Số C đường X, khu phố H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dươngđang uống bia cùng ông Phạm Thanh T1, sinh năm 1998; thường trú: Số B, khu phố H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương và một số người khác (không rõ nhân thân, lai lịch) tại bậc thềm trước nhà.
Do khát nước, K1 khiển xe vào nhà ông Vlxin 01 (một) lon bia để uống và ngồi cùng nhóm bạn của ông V2 20 phút sau, K2 thấy trên ghế nhựa cạnh bàn, chỗ ông B2 có 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 14 Promax, màu đen. Lúc này, Klợi dụng lúc ông B3 để ý, Kdùng tay phải lấy điện thoại hiệu Iphone 14 Promax để trên bàn và đưa tay qua bên trái cầm rồi nhanh chóng lên xe mô tô biển số 70K7 - 0983, điều khiển xe bỏ chạy về hướng đường H, phường L, thành phố T, T hiện điện thoại mình bị mất trộm, ông B4 các bạn của mình là ông V3 khiển xe mô tô đuổi theo Kđến ngã tư giao nhau giữa đường H và đường số A, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố H đuổi kịp và bắt giữ được Klúc này K3 cầm điện thoại của ông B5 tay trái. Sau đó, ông B6 ông V4 Kvề trụ sở Công an phường L, Thành phố Hồ Chí Minh để trình báo. Cùng ngày, Công an phường L Tchuyển nguồn tin về tội phạm đến Công an phường B tiếp nhận, xác minh theo thẩm quyền. Đến 16 giờ 00 phút ngày 14/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với KTại Cơ quan điều tra, Lê Văn K4 nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
* Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 256GB, màu đen và 01 (một) xe mô tô biển số 70K7 - 0983, kiểu dáng Wave, nhãn hiệu Wayec.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 21/BBĐG-HĐĐGTS ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 256GB, màu đen có trị giá là 19.500.000 đồng.
Quá trình tố tụng, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số: 21/BBĐG-HĐĐGTS ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D.
Tại cáo trạng số: 182/CT – VKS - DA ngày 08 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn K với mức hình phạt từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 256GB, màu đen. Đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị hại Nguyễn Hữu B7 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dtrả lại điện thoại trên cho ông B
Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 70K7 - 0983, kiểu dáng Wave, nhãn hiệu Wayec qua tra cứu xác định được, người đứng tên sở hữu xe là ông Đặng Phước C1, sinh năm: 1985; thường trú: Số C, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây NinhQua làm việc với ông C2 C xác định đã bán xe mô tô trên cho một người (không rõ nhân thân, lai lịch) cách đây 10 năm mà không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Bị cáo K xác định xe mô tô trên là do bị cáo K5 của một người đàn ông tên N(không rõ nhân thân, lai lịch), hiện ông N1 đâu, làm gì không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng không có ai đến nhận, xe mô tô trên do bị cáo K6 phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
* Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho Nguyễn Hữu B1, bị hại B không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
Quá trình tố tụng, bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt đồng thời bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Do bị cáo và bị hại vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Lê Văn K7 bị hại Nguyễn Hữu B1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 290 và Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo và bị hại.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 13/02/2024 tại số nhà B, tổ F, khu phố H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Lê Văn K có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 256GB, màu đen của bị hại Nguyễn Hữu B8 trị giá 19.500.000 đồng,
Như vậy, hành vi của bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị 19.500.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 182/CT – VKS - DA ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự.
[7] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 256GB, màu đen. Đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị hại Nguyễn Hữu B7 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dtrả lại điện thoại trên cho ông B7 không đặt ra xem xét.
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 70K7 - 0983, kiểu dáng Wave, nhãn hiệu Wayec qua tra cứu xác định được, người đứng tên sở hữu xe là ông Đặng Phước C1, sinh năm: 1985; thường trú: Số C, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây NinhQua làm việc với ông C2 C xác định đã bán xe mô tô trên cho một người (không rõ nhân thân, lai lịch) cách đây 10 năm mà không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Bị cáo K xác định xe mô tô trên là do bị cáo K5 của một người đàn ông tên N(không rõ nhân thân, lai lịch), hiện ông N1 đâu, làm gì không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng không có ai đến nhận, xe mô tô trên do bị cáo K6 phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho bị hại Nguyễn Hữu B1, bị hại B không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dươngđưa ra điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng cũng như trách nhiệm dân sự là phù với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Văn K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/02/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave, nhãn hiệu Wayec, số loại C110-1, đề dung tích xi lanh 108cm³, biển số 70K7-0983, số khung: VDPWCH064DP400586, số máy: VDP1P52FMH460586.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Văn K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.
Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Công an thành phố Dĩ An (03); - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Người tham gia tố tụng (03); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - THA hình sự (04); - UBND xã, phường bị cáo thường trú (01); - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PC 10 CA tỉnh Bình Dương (01); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Hoàng |
Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 184/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lê Văn K
