TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 184/2024/HNGĐ-ST Ngày 24 - 6 - 2024 V/v không công nhận quan hệ vợ chồng | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng và ông Lê Mạnh Nhanh
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhâm - Kiểm sát viên
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/ 2024/ TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/ 2024/ QĐXX - HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2024/QĐST - DS ngày 07/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Viết H, sinh năm 1965
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1970
Đều có HKTT: Đội 3, T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Ông H có mặt, bà N vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tại Toà, nguyên đơn ông Nguyễn Viết H trình bày:
Ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị Kim N được hai gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương năm 1989, nhưng không đăng ký kết hôn, vì thời điểm đó do hiểu biết pháp luật hạn chế nên ông H, bà N không đến UBND xã để đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau ngay tại khu tập thể X5 thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H, nay thuộc địa bàn quản lý của Đội 3, T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2011 cho đến nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, ông H đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông H và bà Nguyễn Thị Kim N là vợ chồng.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Viết C, sinh ngày 28/8/1989, Nguyễn Việt T, sinh ngày 17/01/1994. Hiện nay cả hai con chung đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết
- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về phía bị đơn, bà Nguyễn Thị Kim N:
Quá trình giải quyết vụ án, bà N không đến Tòa làm việc, nên Tòa án kết hợp với UBND thị T1 tống đạt và niêm yết, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà N vẫn không đến tòa làm việc.
Mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng bà N cố tình không đến Tòa làm việc, nên không rõ quan điểm của bà N.
Tại phiên toà: Ông Nguyễn Viết H giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKSND huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Viết H, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị Kim N là vợ chồng.
Về con chung: Ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị Kim N có 02 con chung là Nguyễn Viết C, sinh ngày 28/8/1989, Nguyễn Việt T, sinh ngày 17/01/1994. Hiện cả hai con chung đều đã trưởng thành, nên không đề nghị Tòa giải quyết.
Về tài sản chung: Do ông Nguyễn Viết H không yêu cầu Tòa giải quyết, nên không đề nghị Tòa giải quyết.
Về án phí: Ông Nguyễn Viết H phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Mặc dù vào thời điểm Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Kim N vẫn có hộ khẩu thường trú tại Đ, T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội nhưng không đến tòa làm việc, nên Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn không thấy bà N đến Tòa làm việc, nên bị coi là trường hợp bị đơn cố tình không đến Tòa làm việc; vì vậy, không cần sự có mặt của bà N, Tòa án vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Năm 1989 ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị Kim N đã tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Kể từ năm 1989 mặc dù đã có một thời gian chung sống hạnh phúc nhưng cả hai chưa hề tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định; Qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn từ năm 1989 đến nay không thấy thể hiện việc ông H, bà N đã đăng ký kết hôn.
Trong quá trình chung sống giữa ông H và bà N đã xẩy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Do cuộc sống không còn tình cảm, quá trình chung sống không có đăng ký kết hôn, nên ông H có đơn đề nghị không công nhận quan hệ giữa ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị Kim N là vợ chồng.
HĐXX xét thấy, mâu thuẫn giữa ông H và bà N đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó cần chấp nhận yêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị Kim N là vợ chồng, là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị Kim N có 02 con chung là Nguyễn Viết C, sinh ngày 28/8/1989, Nguyễn Việt T, sinh ngày 17/01/1994. Hiện nay cả hai con chung đã trưởng thành, nên Tòa không xét.
Về tài sản chung, công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án do bà N không đến Tòa làm việc, nên chưa có đầy đủ căn cứ xác định được tài sản chung, công nợ chung của ông H, bà N. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt nên phần tài sản, công nợ của ông H, bà N, cần tách ra chưa xét trong vụ án này và sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có tranh chấp phát sinh .
Về án phí: Ông Nguyễn Viết H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản vào khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, Điều 14; Điều 15 và Điều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 35/2000/NQ – QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Viết H đối với bà Nguyễn Thị Kim N.
- Về án phí: Ông Nguyễn Viết H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số 0007834 ngày 16/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Ông H đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.
Không công nhận quan hệ giữa ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị Kim N là vợ chồng.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Phi Hùng |
Bản án số 184/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 184/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn H-N
