|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 184/2024/DS-PT Ngày: 24 - 4 - 2024 V/v đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập;
Ông Đặng Minh Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Biển - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08/3/2024 và 23/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 489/2023/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 230/2023/DSST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 21/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Ngọc L, sinh năm 1975; Cư trú tại: Ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
- Ông Võ Ngọc T, sinh năm 1961;
- Bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1962.
Cùng cư trú tại: Áp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Đ1, sinh năm 1975; Cư trú tại: Khóm B, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (theo Giấy ủy quyền ngày 06/12/2021).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Võ Ngọc T: Luật sư Trịnh Thanh L1, là Luật sư của Văn phòng luật sư Trịnh Thanh L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N;
- Ông Lục Quốc M, sinh năm 1949;
- Ông Võ Ngọc Ú, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng N: Bà Trần Kiều O - Phó Giám đốc Ngân hàng N, chi nhánh huyện P, tỉnh Cà Mau.
Cư trú tại: Ấp T, xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Cư trú tại: Số H, đường P, ấp B, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Ông Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đ – Là bị đơn.
Ông Võ Ngọc L, Luật sư Trịnh Thanh L1 có mặt tại phiên tòa, các đương sự khác vắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Ông có phần đất thuộc thửa số 675, tờ bản đồ 1B, diện tích 14.210m², tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau, ông đã được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện C, tỉnh Minh Hải (nay là huyện P, tỉnh Cà Mau) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là giấy CNQSDĐ) vào ngày 17/8/1995. Nguồn gốc phần đất là của ông bà ngoại của ông là ông Phan Văn C và bà Nguyễn Thị G (đều đã chết) cho cha mẹ ông là ông Võ Văn K (chết năm 1981) và bà Phan Thị C1 (chết năm 1975). Cha mẹ ông đã cho lại ông toàn bộ phần đất này do ông sinh sống trên phần đất nhưng những người con khác đều đã có gia đình riêng nên ông đã quản lý, canh tác trên đất từ trước năm 1993, cho đến năm 1993 gia đình có họp thân tộc thống nhất cho ông đứng tên trong giấy CNQSDĐ. Sau khi được cấp giấy CNQSDĐ vào ngày 17/8/1995 thì ông vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng. Lúc đó, ông T đã có gia đình riêng và sinh sống ở phần đất khác ở xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau. Đến năm 2002, do thấy hoàn cảnh ông Võ Ngọc T khó khăn nên ông đã cho ông T mượn một phần diện tích khoảng 10.000m² (nằm trong phần đất có diện tích 14.210m²) ông đã được cấp giấy CNQSDĐ để canh tác, phần còn lại vẫn do ông quản lý, sử dụng. Khi đó, có thỏa thuận khi nào các con ông T trưởng thành thì ông T phải di dời nhà và trả đất lại cho ông, do là anh em với nhau nên việc cho mượn không có làm văn bản, giấy tờ gì. Phần đất này cha mẹ ông đã cho ông và ông quản lý toàn bộ chứ không có việc phân chia cho ông Võ Ngọc Ú do ông Ú đã có gia đình riêng, chuyển đến huyện N từ khoảng năm 1994 - 1995, sau đó sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay, còn việc ông T cho rằng khi ông Ú đi có bàn giao lại phần đất cho ông T và ông T có trả cho ông Ú 20 chỉ vàng 24kara thì hoàn toàn không có. Đối với việc ông T cất nhà ông không có ngăn cản vì ông T cũng đã hứa khi nào các con ông T trưởng thành sẽ di dời nhà để trả lại đất cho ông. Đến nay, các con ông T đã trưởng thành nên ông yêu cầu ông T trả lại đất.
Vào ngày 19/5/2020 ông có vay tại Ngân hàng N, chi nhánh huyện P, tỉnh Cà Mau (viết tắt là Ngân hàng N) số tiền 200.000.000 đồng và giao giấy CNQSDĐ do ông đứng tên cho Ngân hàng Nông nghiệp giữ để đảm bảo cho hợp đồng vay. Nay ông yêu cầu giải quyết buộc ông Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đ trả lại phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 11.928,2m², tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau và di dời các tài sản có trên đất để trả lại đất cho ông. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, ông L thống nhất vì là anh em ruột và ông T, bà Đ hiện tại không còn chỗ ở nào khác nên ông đồng ý giao lại phần đất có diện tích 893,4m² gắn liền với căn nhà và các tài sản khác của ông T, bà Đ cho ông T, bà Đ tiếp tục quản lý, sử dụng, ông không yêu cầu ông T, bà Đ phải trả lại giá trị đối với diện tích đất này cho ông theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T1 với số tiền là 95.472.000 đồng. Từ đó, ông yêu cầu giải quyết buộc ông T, bà Đ trả cho ông diện tích đất còn lại là 11.034,8m², tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 17 tháng 11 năm 2021 của ông Võ Ngọc T, bà Đỗ Thị Đ và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Nguyễn Ngọc Đ1 trình bày: Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông, bà ngoại của ông T là ông Phan Văn C và bà Nguyễn Thị G cho cha mẹ ông T là ông Võ Văn K và bà Phan Thị C1 với diện tích khoảng 20.000m², tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau. Sau khi ông K và bà C1 chết không để lại di chúc thì chỉ có ông Võ Ngọc L và ông Võ Ngọc Ú quản lý, sử dụng phần đất này, còn những người con khác đều đã có gia đình riêng. Đến năm 1993 thì họp gia đình thống nhất không ai yêu cầu phân chia di sản thừa kế trong phần đất này, mà diện tích đất được chia đều cho Võ Ngọc L và ông Võ Ngọc Ú mỗi người 10.000m² và phải có trách nhiệm thờ cúng ông, bà cha mẹ. Do đó, thân tộc thống nhất cho ông Võ Ngọc L đại diện chủ hộ gia đình đứng tên trong giấy CNQSDĐ vào năm 1993. Ông Võ Ngọc Ú quản lý, sử dụng đến năm 2002 thì do hoàn cảnh phải đi làm ăn xa nên có họp gia đình thống nhất giao lại cho ông T phần đất có diện tích 10.000m² và cùng với ông Lương chịu trách nhiệm thờ cúng ông, bà cha mẹ, khi đó ông T đã giao cho ông Ú 20 chỉ vàng 24kara để hoàn trả công sức đầu tư cải tạo trên đất, trước đó ông T đã có gia đình riêng và sinh sống ở phần đất khác ở xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau. Từ đó đến nay ông T vẫn chưa yêu cầu ông L chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang cho ông T với lý do thỏa thuận để sau này chuyển tên sang cho con ông T. Sau khi nhận đất thì ông T đã cất nhà kiên cố, san lắp mặt bằng và xây dựng các công trình kiến trúc có trên phần đất nhưng phía ông L cũng không phản đối. Nay ông T, bà Đ không chấp nhận trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của ông L. Đồng thời, yêu cầu công nhận toàn bộ phần diện tích do ông T, bà Đ đang quản lý, sử dụng theo đo đạc thực tế là 11.928,2m², tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau cho ông T, bà Đ.
Ngày 21/02/2022 của Ngân hàng N yêu cầu ông Võ Ngọc L trả tổng số tiền vốn và là 227.017.671 đồng và phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ. Tại đơn yêu cầu ngày 15/9/2023 Ngân hàng N yêu cầu rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với ông Võ Ngọc L.
Tại bản tự khai ngày 24 tháng 6 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Ngọc Ú trình bày: Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông, bà ngoại của ông là ông Phan Văn C và bà Nguyễn Thị G cho cha mẹ ông là ông Võ Văn K và bà Phan Thị C1 với diện tích khoảng 20.000m², tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau. Sau khi ông K và bà C1 chết không để lại di chúc thì chỉ còn ông Võ Ngọc L và ông quản lý, sử dụng phần đất này. Đến năm 1993 thì họp gia đình thống nhất không ai yêu cầu phân chia di sản thừa kế trong phần đất này, mà diện tích đất được chia đều cho Võ Ngọc L và ông mỗi người 10.000m² và phải có trách nhiệm thờ cúng ông, bà cha mẹ. Do đó, thân tộc thống nhất cho ông Võ Ngọc L đại diện chủ hộ gia đình đứng tên trong giấy CNQSDĐ vào năm 1993. Trước năm 1993 thì diện tích đất này đã được chia đều cho ông và ông L để thờ cúng. Ông quản lý, sử dụng đến năm 2002 thì ông chuyển đến ấp K, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau làm vuông, đến năm 2018 thì ông chuyển lên thành phố Hồ Chí Minh và sinh sống cho đến nay. Trước khi đi vào năm 2002 thì ông có họp gia đình thống nhất giao lại cho ông T phần đất có diện tích 10.000m² đã giao cho ông để giao lại cho ông T, bà Đ và cùng với ông Lương c trách nhiệm thờ cúng ông, bà cha mẹ, khi đó ông T, bà Đ đã giao cho ông 2 chỉ vàng 24kara để hoàn trả công sức đầu tư cải tạo trên đất. Do đó, việc ông L khởi kiện cho rằng ông T, bà Đ mượn đất là không đúng.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 230/2023/DSST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (tóm tắt).
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Ngọc L. Buộc buộc ông Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đ trả lại cho ông Lương phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 11.034,8m², tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T và bà Đ về việc yêu cầu công nhận toàn bộ phần diện tích theo đo đạc thực tế là 11.928,2m², tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Giao cho ông L quản lý, sử dụng 01 cái cống bằng bê tông cốt thép. Buộc ông L trả cho ông T và bà Đ giá trị tài sản, số tiền 3.050.000 đồng.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 về việc yêu cầu ông L trả cho Ngân hàng N tổng số tiền tính đến ngày 28/3/2023 là 227.017.671 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 09/10/2023 ông Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đ kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 230/2023/DS-ST ngày 27/9/2023, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của L về việc buộc ông T và bà Đ giao trả lại phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 11.034,8m². Chấp nhận phản tố của ông Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đ về việc yêu cầu công nhận toàn bộ diện tích 11.928,2m².
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Trước khi mở lại phiên tòa, đại diện ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Ngọc Đ1 có đơn xin dời phiên tòa, do bị bệnh phải nhập viện.
Luật sư Trịnh Thanh L1 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 230/2023/DSST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn qui định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
Xét việc xử vắng mặt các đương sự: Ngày mở lại phiên tòa, ông Nguyễn Ngọc Đ1 là đại diện theo ủy quyền của bị đơn có nhờ người mang đến Tòa Đơn yêu cầu dời ngày xét xử do ông phải nhập viện điều trị bệnh “Thoái hóa cột sống” nhưng ông Đ1 không cung cấp được giấy tờ chứng minh ông đang nhập viện. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông Đ1. Do không có căn cứ về việc ông Đ1 nhập viện (bất khả kháng), do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Nguyễn Ngọc Đ1. Đối với các đương sự khác trong vụ án do vắng mặt không lý do, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Khi khởi kiện, ông L trình bày: Cha mẹ cho ông phần đất thuộc thửa số 675, tờ bản đồ 1B, diện tích 14.210m², tọa lạc tại huyện P, tỉnh Cà Mau, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 17/8/1995. Đến năm 2002, do thấy hoàn cảnh ông Võ Ngọc T khó khăn nên ông đã cho ông T mượn một phần diện tích khoảng 10.000m² (nằm trong phần đất có diện tích 14.210m² ông đã được cấp giấy CNQSDĐ) để canh tác, phần còn lại vẫn do ông quản lý, sử dụng...”.
[2.2] Theo các chứng cứ có tại hồ sơ và lời trình bày của ông L và các anh chị em ông L thì cha mẹ ông L để lại phần đất khoảng hơn 20.000m², cùng vị trí. Khi khởi kiện, ông L chỉ yêu cầu Công ty TNHH P đo vẽ thể hiện 3 thửa 1, 2, 3 theo bản trích đo hiện trạng ngày 17/3/2022 là 17.380,2m², còn 01 phần đất phía sau đất ông L đang quản lý, ông L không yêu cầu đo (phần không yêu cầu đo sau đây được tạm gọi là thửa 4).
[2.3] Thực tế hiện nay, ông L quản lý, sử dụng thửa 2 (6.345,4m²) và thửa 4 (ông L không yêu cầu đo); ông T quản lý sử dụng thửa 1, 3 (tổng diện tích là 11.034,8m²). Hai phần đất do anh em ông L, ông T quản lý, sử dụng nằm cạnh nhau, giữa hai phần đất có 1 bờ ranh chạy dài từ mặt tiền đến mặt hậu phân chia 2 phần đất.
Theo Công văn số 309/CNVPĐKĐĐ ngày 26/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P thì ông L được cấp giấy CNQSDĐ 14.210m², phần còn lại ông L đăng ký mục kê, chưa được cấp giấy CNQSDĐ.
Ngày 16/7/1995 ông L làm đơn xin cấp giấy CNQSDĐ, theo đơn ông L khai nghề nghiệp “Làm vườn”, xin cấp tổng diện tích sử dụng là 14.210m² (đất ở 300m², đất vườn 13.910m²). Ngày 17/8/1995 ông L được cấp giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích 14.210m².
Ông T quản lý, sử dụng phần đất thửa 1, 3 và cất nhà kiên cố từ năm 2002 cho đến nay.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T không lý giải được vì sao ông khai cha mẹ để lại cho ông toàn bộ phần đất khoảng hơn 20.000m² mà năm 1995 ông chỉ làm đơn xin cấp giấy CNQSDĐ đối với 14.210m², chứ không xin cấp toàn bộ phần đất. Điều này cũng cho thấy khi kê khai để được cấp giấy CNQSDĐ, ông L kê khai không chính xác phần đất ông đã, đang quản lý, sử dụng.
[3] Liên kết các chứng cứ và tình tiết nêu trên cho thấy lời trình bày của ông T, bà Đ cho rằng không có mượn đất ông L mà phần đất sau khi cụ K và cụ C1 chết thì phần đất tranh chấp được chia đều cho ông Võ Ngọc L và ông Võ Ngọc Ú mỗi người khoảng 10.000m², ông Ú quản lý, sử dụng đến năm 2002 thì giao lại cho ông T phần đất khoảng 10.000m², ông T giao cho ông Ú 20 chỉ vàng 24K để hoàn trả công sức đầu tư, cải tạo trên đất, là có căn cứ.
[4] Mặt khác, cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu ông Võ Ngọc L yêu cầu ông T, bà Đ trả lại phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 11.034,8m², là vượt quá yêu cầu khởi kiện. Bởi lẽ khi khởi kiện ông L xác định ông có 14.210m² đất đã được cấp giấy CNQSDĐ, cho ông T mượn khoảng 10.000m². Cấp sơ thẩm buộc ông T trả 11.034,8m², nếu cộng với phần đất ông L đang quản lý tại thửa 2 = 6345,4m², thì tổng diện tích là 17.380,2m² (nhiều hơn giấy CNQSDĐ ông L).
[5] Từ những tình tiết, chứng cứ và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận 1 phần kháng cáo của Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đà . Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 230/2023/DSST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Ngọc L.
[6] Đối với yêu cầu phản tố của ông Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đ về việc yêu cầu công nhận phần đất do ông đang quản lý, sử dụng theo đo đạc thực tế là 11.034,8m². Do ông T, bà Đ không đăng ký mục kê, điều kiện để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ chưa được xem xét như: Đất có nằm trong quy hoạch hay không, ý kiến các đồng thừa kế như thế nào ... Do đó yêu cầu phản tố của ông T và bà Đ như nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Cà Mau. Cấp sơ thẩm xét xử về yêu cầu phản tố nêu trên là không đúng thẩm quyền. Do không thuộc thẩm quyền nên Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy và đình chỉ 1 phần Bản án dân sự sơ thẩm số 230/2023/DSST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau về yêu cầu phản tố của ông T và bà Đ.
[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau không phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Đề nghị của Luật sư Trịnh Thanh L1 có 1 phần phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận 1 phần.
[8] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc 17.713.785 đồng và chi phí định giá tài sản 12.589.500 đồng, tổng số tiền là 30.303.285 đồng. Do không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L nên ông L phải chịu toàn bộ (ông L đã thanh toán xong cho cơ quan đo đạc và cơ quan định giá tài sản).
[9] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch ông L phải chịu 300.000 đồng, ông L đã dự nộp được đối trừ, phần thừa được nhận lại.
Án phí dân sự sơ thẩm, ông T và bà Đ được miễn do là người cao tuổi, phần đã dự nộp được nhận lại.
Án phí dân sự phúc thẩm ông T và bà Đ không phải nộp (đã được miễn dự nộp).
[10] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 308; Điều 311 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Võ Ngọc T và Đỗ Thị Đà. Sửa 1 phần, hủy và đình chỉ 1 phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 230/2023/DSST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Ngọc L về việc yêu cầu ông Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đ trả lại cho ông Võ Ngọc L phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 11.034,8m², tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau (thửa số 1 có diện tích 4731,3m², thửa số 3 có diện tích 6303,5m² theo Mảnh trích đo).
- Hủy và đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đ về việc yêu cầu công nhận toàn bộ phần diện tích theo đo đạc thực tế là 11.928,2m², tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau cho ông Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đ (thửa số 1, 3 và 4 theo Mảnh trích đo).
(Kèm theo Bản trích đo hiện trạng ngày 17/3/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn P).
- Chi phí tố tụng: Ông Võ Ngọc L phải chịu toàn bộ số tiền 30.303.285 đồng (ông L đã nộp xong).
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về việc yêu cầu ông Võ Ngọc L trả cho Ngân hàng N tổng số tiền vốn vay và lãi suất còn nợ tính đến ngày 28/3/2023 là 227.017.671 đồng, trong đó nợ gốc là 200.000.000 đồng, lãi là 27.017.671 đồng và phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.
- Về án phí:
- 5.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Võ Ngọc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng). Ngày 16/7/2021 ông Võ Ngọc L đã nộp tạm ứng án phí 5.000.000đ (năm triệu đồng) theo biên lai số 0012567 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, được đối trừ, ông Võ Ngọc L được nhận lại số tiền chênh lệch là 4.700.000đ (bốn triệu bảy trăm ngàn đồng).
Ông Võ Ngọc T và bà Đỗ Thị Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0017610, ngày 22/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- 5.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông T và bà Đ không phải nộp.
- 5.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thành Lập |
Đặng Minh Trung |
Đỗ Cao Khánh |
Bản án số 184/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 184/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi TS là QSD đất
