|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 184/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Doãn Văn Sáng
Ông Bùi Đình Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 210/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị L, nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng.
Các đương sự đều xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Đoàn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 26/11/2018. Quá
trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn tình cảm, dẫn đến vợ chồng không hạnh phúc, lạnh nhạt, không còn nói chuyện với nhau. Do mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân, anh C không có động thái gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng, gia đình chồng không quan tâm. Nay chị Đoàn Thị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án cho chị ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
Về con chung: Chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C có một con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/7/2021. Hiện nay, con chung đang khỏe mạnh và phát triển bình thường. Từ khi vợ chồng sống ly thân con chung ở với anh C, cuối tuần chị đón về ở với chị. Toàn bộ tiền nuôi con ăn, học là do chị lo. Ly hôn, chị Đoàn Thị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị xin tự thỏa thuận với anh Nguyễn Văn C nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị Đoàn Thị L hiện nay đang làm công nhân, thu nhập khoảng từ 7 triệu đến 14 triệu đồng/1 tháng. Chị sống cùng bố mẹ đẻ có chỗ ở ổn định.
Về tài sản chung: Chị Đoàn Thị L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 13/8/2024 của bị đơn là anh Nguyễn Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện, hoàn cảnh, thời gian kết hôn của vợ chồng anh thống nhất với lời khai của chị Đoàn Thị L. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do đâu thì anh C không biết, anh chỉ biết chị L tự bỏ đi. Từ khi chị L bỏ đi anh C cũng chưa có biện pháp khắc phục mâu thuẫn, chưa tìm chị L về. Bố mẹ chị L có gọi anh xuống nói chuyện nhưng anh chưa xuống. Nay chị Đoàn Thị L xin ly hôn với anh thì anh không đồng ý.
Về con chung: Họ tên, ngày tháng năm sinh, sức khoẻ của con chung, anh Nguyễn Văn C thống nhất như chị Đoàn Thị L trình bày. Từ thứ hai đến thứ 6 con chung ở với anh, cuối tuần chị L đón về ông bà ngoại. Từ khi chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ, chị L vẫn đóng học cho con. Khi ly hôn, anh C đề nghị được trực tiếp nuôi con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Trường hợp anh nuôi con chung, anh đề nghị chị L cấp dưỡng nuôi con chung với anh là 2.000.000 đồng/tháng. Anh hiện nay nấu ăn cho công ty, mức thu nhập là 10.000.000 đồng/tháng. Chị L làm công nhân, lương tháng bao nhiêu anh C không rõ. Hiện nay anh đang ở nhà của bố mẹ đẻ anh.
Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn C xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, con chung của chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C như chị
2
Đoàn Thị L, anh Nguyễn Văn C trình bày là đúng. Chị Đoàn Thị L về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 5 năm 2024. Nay chị Đoàn Thị L xin ly hôn anh Nguyễn Văn C đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về điều luật áp dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đoàn Thị L: Xử cho chị Đoàn Thị L ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/7/2021 cho cho chị Đoàn Thị L nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đoàn Thị L xin tự giải quyết với anh Nguyễn Văn C, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn, bị đơn là anh Nguyễn Văn C đang sinh sống tại huyện T, thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238
3
Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 26/11/2018, theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến tháng 5 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Anh Nguyễn Văn C không có biện pháp, tác động gì để vợ chồng đoàn tụ. Vợ chồng sống ly thân với nhau từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị L, xử cho chị Đoàn Thị L ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
[4] Về con chung: Chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C có một con chung là: Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/7/2021. Hội đồng xét xử, xét thấy: Điều kiện chăm sóc, nuôi con chung của chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C là ngang nhau. Song xét thấy, từ khi sống ly thân chị Đoàn Thị L vẫn làm tròn trách nhiệm của một người mẹ. Mặc khác, con chung còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó để đảm bảo quyền lợi của con chung, cần giao con chung Nguyễn Minh K cho chị Đoàn Thị L nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Đoàn Thị L xin tự giải quyết với anh Nguyễn Văn C, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung giữa chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C.
[5] Về tài sản chung: Chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Thị L là nguyên đơn nên chị Đoàn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị L ly hôn anh Nguyễn Văn C.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/7/2021 cho chị Đoàn Thị L nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đoàn Thị L xin tự giải quyết với anh Nguyễn Văn C, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung giữa chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C.
3. Về tài sản chung: Chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C đều xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự: Chị Đoàn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009999 ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Đoàn Thị L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hằng |
6
7
Bản án số 184/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 184/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lan + Cường
