Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 184/2024/HS-ST

Ngày: 22-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ nghỉ hưu;
  2. Bà Vương Thị Khánh Loan - Cán bộ nghỉ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Bình – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 167/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với:

Bị cáo Phạm Quốc H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 2002 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 57 T, tổ D, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Tổ C, khu phố C, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Họ tên cha: Phạm Hùng S, sinh năm 1964 (còn sống); Họ tên mẹ: Trương Thị Nghĩa H1, sinh năm: 1979 (còn sống); Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 01/01/2024, đến ngày 04/01/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Có mặt).

- Bị hại: Bà Phùng Nguyễn Thúy H2, sinh năm 1997;

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Ngày 09/9/2022, Phạm Quốc H lên mạng xã hội “Facebook” để tìm mua tài khoản game “PUBG Mobile” thì thấy tài khoản “Facebook” của chị P Nguyễn Thúy H2 (sinh năm 1997) ngụ tổ F, ấp T, phường T, huyện V, tỉnh Đồng Nai có đăng thông tin bán tài khoản game nên H đã nhắn tin hỏi mua. Sau khi thoả thuận thì H yêu cầu chị H2 chuyển vào tài khoản ngân hàng của H số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để làm tiền cọc thì chị H2 đồng ý và hẹn gặp H tại quán nước “Cô chủ nhỏ” thuộc khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, H nhờ T (không rõ lai lịch, địa chỉ) điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở H đến điểm hẹn để gặp chị H2. Tại đây, H yêu cầu được kiểm tra tài khoản game nên chị H2 đã đưa cho H 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max để H xem. Khi H đang xem điện thoại thì T nói với H “lấy điện thoại đi” thì H hiểu ý và nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của chị H2. Lúc này, T đi lấy xe mô tô, ngồi trên xe nổ máy sẵn dừng trước quán nước khoảng 03 mét rồi gọi H đưa tiền cho T để đi mua thuốc lá nên H cầm theo điện thoại di động đi đến chỗ T. Sau đó, H chỉ tay vào quán nước nói “Mày xem trong quán nước có bán không” thì chị H2 nhìn theo hướng tay của H rồi H nhanh chóng ngồi lên xe để T tăng ga tẩu thoát. Lúc này, chị H2 phát hiện sự việc nên lấy xe mô tô đuổi theo nhưng bị mất dấu nên chị H2 đã đến Công an phường H trình báo sự việc.

Sau khi chạy thoát thì T chở H đến một tiệm điện thoại (không rõ tên) tại Quận G, thành phố Hồ Chí Minh và bán điện thoại Iphone 12 Pro Max với giá 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng). H lấy 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để tiêu xài cá nhân hết còn 7.000.000 đồng (đồng) thì mua 01 (Một) xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) và giao cho T sử dụng.

Ngày 31/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã mời H về trụ sở làm việc. Tại đây, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng vụ án:

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max Phạm Quốc H đã bán cho một tiệm điện thoại (không rõ tên, địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa thu hồi được.

Tại Bản kết luận định giá số 2186/KL-HĐĐGTS ngày 17/11/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max loại 256GB trị giá 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng)”.

Về dân sự: Bị hại bà Phùng Nguyễn Thúy H2 đã được bồi thường số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) nên không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

2. Về các vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên T đã cùng với Phạm Quốc H thực hiện hành vi cướp giật tài sản nhưng hiện không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau.

3. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 188/CT-VKSBH-HS ngày 26/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Quốc H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

Áp dụng khoản 1, Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Phạm Quốc H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Bị cáo H có mặt không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

4. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại bà Phùng Nguyễn Thúy H2 có đơn xin xét xử vắng mặt, lời khai của họ đã đầy đủ và có trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận định giá tài sản, biên bản lấy lời khai bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 09/9/2022, Phạm Quốc H đã thực hiện hành vi cướp giật 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max trị giá 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) của chị Phùng Nguyễn Thúy H2 tại quán nước “Cô chủ nhỏ” thuộc khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Đến ngày 31/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành điều tra và bắt giữ H để xử lý.

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Phạm Quốc H phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản Cáo trạng số 188/CT-VKSBH-HS ngày 26/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên dù biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái phép là vi phạm pháp luật mà vẫn thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự xem thường pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[3] Về vật chứng:

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max Phạm Quốc H đã bán cho một tiệm điện thoại (không rõ tên, địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa thu hồi được nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:

Bị hại bà Phùng Nguyễn Thúy H2 đã được bồi thường số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) nên không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về các vấn đề khác có liên quan tới vụ án:

Đối với đối tượng tên T đã cùng với Phạm Quốc H thực hiện hành vi cướp giật tài sản nhưng hiện không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:

- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.

- Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

- Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Quốc H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

2. Về án phí:Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Phạm Quốc H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự TP.Biên Hòa
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 184/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger