Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 184/2024/DS-PT

Ngày 22-4-2024

V/v Tranh chấp: “Thừa kế tài sản”

và “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do

người chết để lại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.

Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân;

Ông Phạm Văn Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Bà Nguyễn Thị Bé Thi – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 510/2023/TLPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc Tranh chấp “Thừa kế tài sản” và “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 117/2023/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 32/2024/QĐPT-DS ngày 05 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lâm Bá T, sinh năm 1976.

    Địa chỉ: Tổ F, ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh

    Nơi tạm trú: Ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)

  2. Bị đơn: Bà Cao Thị N, sinh năm 1961.

    Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Thanh Đ – Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T20 (Có mặt)

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số A, N, Khu phố B, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An. (Có mặt)

  4. Người kháng cáo: bị đơn bà Cao Thị N

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/5/2023 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lâm Bá T bày:

Ông Lâm Bá T cháu ruột của ông Lâm Văn K (đã chết), lúc ông K sống thì ông T người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho ông Lâm Văn K vào ngày 12/9/2022 ông Lâm Văn K lập di chúc cho ông T đất diện tích 2.042,4 m², thửa đất số 201, tờ bản đồ số 22, trên đất có căn nhà thờ, tọa lạc tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây NinhĐến ngày 22/10/2022 ông Lâm Văn K, hiện tại ông đang quản lý, sử dụng phần diện tích đất do ông Lâm Văn K để lại và thờ cúng ông KÔng K có vợ con gì cả, ông K bà Cao Thị N chung từ năm 2013, không có đăng ký kết hôn, ông K bà N có con chung, bà N vợ không hợp pháp của ông K gia đình ông K ai chấp nhận là Non bà vợ. Nguồn gốc phần đất trên có được là do ông K tài sản của cha mẹ ông K riêng ông K mua lại phần đất này và xây căn nhà thờ như hiện nay. Bà N ông K sống chung không có tạo được tài sản gì.

Nay ông Lâm Bá T cầu được hưởng di sản thừa kế do ông Lâm Văn K để lại theo di chúc ngày 12/9/2022 là phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.042,4 m² qua đo đạc thực tế diện tích là 1.869,0 m², thửa đất số 201, tờ bản đồ số 22, trên đất có vườn nhãn và căn nhà thờ, tọa lạc tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây NinhÔng T đồng ý thực hiện theo di chúc là cho bà Cao Thị N ở trên căn nhà thờ do ông Lâm Văn K để lại đến cuối đời.

Ngoài ra, lúc còn sống ông Lâm Văn K mượn của chị Nguyễn Thị P(con gái bà Cao Thị N tiền là 70.00.000 đồng (bảy mươi triệu đồng), để trị bệnh và ông K thế chấp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị P Nay ông K chết ông T ý trả cho bà P tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) và yêu cầu bà P lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lâm Văn K tên.

* Bị đơn – bà Cao Thị N bày:

Bà không đồng ý theo yêu cầu được hưởng di sản thừa kế của ông T Vì bà là vợ của ông Lâm Văn K bà được hưởng thừa kế tài sản do ông Lâm Văn K để lại. Bà N chung với ông K năm 1986, lúc đầu thì cha mẹ chồng không chấp nhận nhưng đến năm 2013 thì bà có nhập tên cùng hộ khẩu với ông Lâm Văn K

Nguồn gốc phần đất diện tích 2.042,4 m², thửa đất số 201, tờ bản đồ số 22, trên đất có căn nhà thờ cấp 4, tọa lạc tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninhcó được là do ông Lâm Văn K tài sản của cha mẹ ông K riêng ông K mua lại phần đất này và xây căn nhà thờ vợ chồng bà cùng ở, bà và ông K chung không có con chung và cũng không có tạo được tài sản gì. Bà N nhận chữ viết Lâm Văn K chữ ký trong tờ di chúc ngày 12/9/2022 là do ông Lâm Văn K và ký tên là đúng, bà N có ký tên trong tờ di chúc ngày 12/9/2022, mục đích bà N tên trong tờ di chúc là để cho ông K vui chứ không nghĩ sau này có tranh chấp.

Lúc còn sống ông Lâm Văn K mượn của bà Nguyễn Thị P(con gái bà N tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) để trị bệnh và ông K thế chấp 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lâm Văn K tên cho bà P Nếu bà N hưởng phần di sản thừa kế do ông Lâm Văn K bà đồng ý trả toàn bộ số nợ trên cho bà P

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị P bày:

Vào ngày 24/3/2022 bà P cho ông Lâm Văn K số tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). Khi ông K tiền của bà thì ông K thế chấp 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lâm Văn K tên. Nay ông K chết nếu ai là người hưởng thừa kế của ông K lại thì phải trả số nợ trên cho bà, bà không yêu cầu tính lãi. Hiện tại bà đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lâm Văn K tên.

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số: 117/2023/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, đã xử:

Căn cứ các Điều 609, 615, 623, 624, 628, 631, 630, 631, 632, 634, 643 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Bá T với bị đơn bà Cao Thị N

Công nhận “Di chúc ngày 12/9/2022” do ông Lâm Văn K để lại là di chúc hợp pháp.

- Ông Lâm Bá T được hưởng di sản thừa kế do ông Lâm Văn K lại là phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế 1.869,0 m² thửa đất số 201, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh Phần đất có tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp đường mương nước dài 16 m, 14 m; giáp đất bà M 26,89 m.
  • - Hướng Tây giáp đất ông T dài 35,54 m.
  • - Hướng Nam giáp đất ông T dài 48,28 m.
  • - Hướng Bắc giáp kênh NN1-13, dài 60,83 m.
  • - Phần tài sản trên đất gồm:

01 (một) căn nhà thờ cấp 4, móng bê tông đà kiềng, nền gạch men, cửa đi + cửa sổ sắt có gắn kiếng, tường xây gạch không tô, cột gạch, kèo đòn tay gỗ xây dựng, trần tấm P mái tôn có diện tích ngang 5,4 m x dài 17,8 m = 96,12 m².

Mái che: Nền gạch, cột bê tông xi măng đúc sẵn, mái tôn, có diện tích ngang 3 m x dài 14,6 m = 43,8 m².

Chuồng trại: Nền xi măng, tường xây lững cao 1m, mái lợp tôn, có diện tích ngang 3 m x dài 8,8 m = 26,4 m².

15 (mười lăm) cây nhãn 3-5 năm tuổi.

Tổng trị giá tài sản anh Lâm Bá T hưởng là 950.700.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu bảy trăm nghìn đồng).

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P

- Buộc ông Lâm Bá T trả cho bà Nguyễn Thị P tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) trong phạm vi giá trị tài sản do ông Lâm Văn K để lại.

- Buộc bà Nguyễn Thị P cho ông Lâm Bá T (một) bản chính giấy chứng nhận QSD đất số GCN:CS12755 do Sở T tỉnh T cấp ngày 18/10/2021 do ông Lâm Văn K tên.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

* Nội dung kháng cáo:

Theo đơn kháng cáo đề ngày 06-10-2023 của bà Cao Thị N có nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, cho rằng: Di chúc ông Lâm Văn K chưa phù hợp pháp luật, ông T được hưởng di sản, hiện tại bà và ông T mâu t với nhau nên bà không thể ở tại căn nhà thờ cúng do ông T lý, sử dụng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn bà N bày: giữ nguyên nội dung kháng cáo, bà cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử như vậy là hẹp hòi cho bà.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày căn cứ pháp lý kháng cáo của bà N sau:

Di chúc ngày 12-9-2022 không phù hợp quy định của pháp luật; Bà N sống với ông K năm 1986 nên là vợ hợp pháp phải được hưởng di sản của ông K Bản án sơ thẩm quyết định cho bà N trong nhà thờ nhưng giao đất cho ông T lý, bà N ông T mâu t với nhau nên dẫn đến quyết định của Bản án sơ thẩm không thể thi hành được.

Ông T bày: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bà N đây là tài sản riêng của ông K ông bà để lại và ông K di chúc cho ông.

Trong phần tranh luận:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận: Di chúc ngày 12-9-2022 chưa phù hợp quy định của pháp luật, tại Điều 624 Bộ luật Dân sự thì những người nhân chứng chỉ ký tên, không xác nhận chữ ký; tại Điều 632, Điều 634 Bộ luật dân sự thì những người sau đây không được làm người làm chứng: Người thừa kế, người có quyền lợi và nghĩa vụ kiên quan, trong vụ án này bà Nông T tên người làm chứng là không đúng; bà T có cho ông K 90.000.000 đồng, bà T khai: “Nếu ai thừa hưởng di sản sẽ trả nợ cho bà”, do đó di chúc cho bà T ký tên là không đúng pháp luật; Ông B với tư các là trưởng ấp không phải là người làm chứng, không thỏa mãn điều kiện di chúc quy định tại Điều 625 Bộ luật dân sự. Từ các lý do trên di chúc ngày 12-9-2022 ông K không có giá trị pháp lý.

Đối với bản án sơ thẩm tuyên giao nhà đất cho ông T bà N quyền ở trong căn nhà đến cuối đời là không hợp lý vì bà Nông T có mâu thuẫn không thể ở được.

Công chăm sóc của bà N với ông K Bà N thực hiện đầy đủ trách nhiệm, bổn phận của người vợ, chăm sóc, thuốc than, lo lắng, mai tang, mồ mã. Hiện tại tuổi đã cao, sức yếu, mong muốn ở lại trên nhà ông K lại với tư cách là người vợ và hoàn thành các khoản nợ của ông K

Từ các lý do trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà N

Bà N tranh luận.

Ông T tranh luận: Không đồng ý kháng cáo của bà N đồng ý cho bà N hưởng di sản đó; Bà N phải là vợ của ông K nay ông K người em tên Lâm Văn K hiện ông T chăm sóc.

Bà P luận: Yêu cầu Tòa án giải quyết đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến Kiểm sát viên:

- Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: Thấy rằng di chúc được lập thành văn bản, có 02 người làm chứng và bà N ký tên và thừa nhận nội dung di chúc. Do đó mặc dù di chúc chưa đảm bảo về hình thức theo quy định nhưng được bà N nhận, hơn nữa qua xác minh nhân chứng thể hiện lúc ông K di chúc là tự nguyện và minh mẫn, do đó cấp sơ thẩm xác định di chúc là hợp pháp là có căn cứ.

- Về cách tuyên: ông T trả cho chị P 70.000.000 đồng trong phạm vi giá trị tài sản ông K để lại là chưa chính xác, do đó cần điều chỉnh lại cách tuyên trong phạm vi di sản người chết để lại theo quy định của pháp luật. Đồng thời bản án chưa tuyên về việc chịu lãi do chậm trả, nên đề nghị Hội đồng xét xử điểu chỉnh bổ sung theo quy định. Không chấp nhận kháng cáo của bà N

Đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được hỏi tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của các bên đương sự, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06-10-2023 bị đơn bà Cao Thị N kháng cáo, qua xem xét đơn kháng cáo phù hợp với trình tự, thủ tục quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét về quan hệ pháp luật giải quyết, thấy rằng: Nguyên đơn ông Lâm Văn T khởi kiện yêu cầu: Công nhận di chúc ngày 12-9-2022 do ông Lâm Văn K để lại cho ông hưởng di sản gồm đất và nhà tọa lạc tại ấp N, xã T, H, Tây Ninh. Phía bị đơn bà Cao Thị N không đồng ý. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Các bên đương sự có tranh chấp. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật giải quyết là tranh chấp: “Thừa kế tài sản”, “Thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” theo khoản 3, 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ông Lâm Văn K 01-01-1954, chết ngày 22-10-2022, di sản của ông K có: diện tích 2.024,4 m² đất trên đất có căn nhà cấp 4 tọa lạc tại ấp N, xã T, H T Sang nhượng của người khác vào ngày 14-7-2021 và được Sở T tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 18-10-2021, nguồn gốc đất và nhà ông K được là do bán đất, tài sản cha mẹ ruột cho riêng ông.

[3.1] Xét mối quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa ông K bà N rằng: bà N bày đã chung sống với ông K năm 1986 có cung cấp tài liệu là Tờ tường trình ngày 03-6-2023, có người làm chứng Nguyễn Thị R xác nhận nội dung: “ Sự thật cô Cao Thị N sống chung với ông Lâm Văn K năm 1986 đến nay, tại ấp T, xã T, H T”, không thể hiện người này sinh ngày tháng năm nào, để xem xét tính khách quan về thời gian, tại phiên tòa phúc thẩm bà N bày là người hàng xóm, không xác định được năm sinh. Tuy nhiên theo Sổ hộ khẩu của ông Lâm Văn K cấp vào ngày 06-8-2010 thể hiện ông K chủ hộ, đến ngày 27-02-2013 mới nhập hộ khẩu cho bà Cao Thị N Ô A ấp T Lưu chuyển đến và đến ngày 05-7-2018 cấp đổi lần 1 sổ hộ khẩu, tại 2 quyển sổ hộ khẩu đều thể hiện mối quan hệ của bà N chủ hộ là “Vợ”, có cơ sở thể hiện bà N ông K hôn nhân thực tế trước 01-3-1987. Tuy nhiên, trước năm 1986 bà N sống như vợ chồng với Nguyễn Văn A, cha ruột bà Nguyễn Thị P, ông A còn sống. Do đó, mối quan hệ của ông K− bà N được công nhận là Hôn nhân thực tế theo Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Xét tính hợp pháp của di chúc được lập ngày 12-9-2022: Ông T bà N và các nhân chứng trình bày thống nhất là ông K lập di chúc cho ông T được hưởng toàn bộ tài sản là nhà và đất, bà N quyền ở trong căn nhà thờ trên đất cho đến hết đời. Bà N rằng có ký tên vào tờ di chúc mục đích cho ông K vẻ là không có căn cứ, vì nguồn gốc nhà đất trong di chúc là tài sản riêng của ông K, ông đã sang nhượng đất của cha mẹ cho riêng ông lấy tiền mua đất đang tranh chấp và xây nhà để ở, diện tích đất 2.024,4 m² ông K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 18-10-2021 là cấp cho riêng ông K. Theo hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất là tài sản riêng của ông K Qua xem xét đối chiếu nội dung di chúc thể hiện: Đây là di chúc bằng văn bản, được lập vào lúc 14 giờ ngày 12-9-2022 ông K di chúc trong trạng thái tinh thần minh mẫn, sáng suốt, có T ấp ông Lê Văn BHuỳnh Thị T hàng xóm làm chứng, có bà Cao Thị N tên với tư cách là vợ ông K bà N rõ việc ông K lại toàn bộ tài sản cho ông T bà không có ý kiến phản đối và đồng ý ký tên trong di chúc. Do đó, việc lập di chúc trên phù hợp Điều 624 của Bộ luật Dân sự. Người trợ giúp viên pháp lý trình bày cho rằng di chúc chưa hợp pháp là không có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bà N cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho nội dung kháng cáo của bà. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà N Đề xuất của VKSND tỉnh Tây Ninh là có cơ sở pháp lý. Đối với số tiền ông T trả cho bà P án sơ thẩm không tuyên lãi suất chậm trả là thiếu sót cần điều chỉnh cho phù hợp.

[5] Về án phí: bà N trường hợp được miễn án phí do là người trên 60 tuổi căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội được miễn án phí sơ thẩm, phúc thẩm dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Cao Thị N nguyên bản án sơ thẩm số 117/2023/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ các Điều 609, Điều 615, Điều 623, Điều 624, Điều 628, Điều 631, Điều 630, Điều 631, Điều 632, Điều 634, Điều 643 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Bá T với bị đơn bà Cao Thị N

    Công nhận “Di chúc ngày 12/9/2022” do ông Lâm Văn K để lại là di chúc hợp pháp.

  2. Ông Lâm Bá T được hưởng phần di sản thừa kế do ông Lâm Văn K lại là phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế 1.869,0 m² thửa đất số 201, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh Phần đất có tứ cận như sau:
    • - Hướng Đông giáp đường mương nước dài 16 m, 14 m; giáp đất bà M 26,89 m.
    • - Hướng Tây giáp đất ông T dài 35,54 m.
    • - Hướng Nam giáp đất ông T dài 48,28 m.
    • - Hướng Bắc giáp kênh NN1-13, dài 60,83 m.

    (Có sơ đồ hiện trạng đất kèm theo).

    - Phần tài sản trên đất gồm:

    01 (một) căn nhà thờ cấp 4, móng bê tông đà kiềng, nền gạch men, cửa đi + cửa sổ sắt có gắn kiếng, tường xây gạch không tô, cột gạch, kèo đòn tay gỗ xây dựng, trần tấm P mái tôn có diện tích ngang 5,4 m x dài 17,8 m = 96,12 m².

    Mái che: Nền gạch, cột bê tông xi măng đúc sẵn, mái tôn, có diện tích ngang 3 m x dài 14,6 m = 43,8 m².

    Chuồng trại: Nền xi măng, tường xây lững cao 1m, mái lợp tôn, có diện tích ngang 3 m x dài 8,8 m = 26,4 m².

    15 (mười lăm) cây nhãn 3-5 năm tuổi.

    Tổng trị giá tài sản anh Lâm Bá T hưởng là 950.700.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu bảy trăm nghìn đồng).

  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P
    • - Buộc ông Lâm Bá T trả cho bà Nguyễn Thị P tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) trong phạm vi di sản ông Lâm Văn K chết để lại.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (02-10-2023) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự

    • - Buộc bà Nguyễn Thị P lại cho ông Lâm Bá T (một) bản chính giấy chứng nhận QSD đất số GCN:CS12755 do Sở T tỉnh T cấp ngày 18/10/2021 do ông Lâm Văn K tên.

    Ông Lâm Bá T có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai.

    Cao Thị N quyền ở trên căn nhà thờ do ông Lâm Văn K để lại đến cuối đời.

  4. Về chi phí đo đạc, thẩm định giá: Ông T tự nguyện chịu số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Ghi nhận ông T thanh toán xong.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Cao Thị N miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Lâm Bá T chịu số tiền 38.421.000 đồng (ba mươi tám triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn đồng) án phí trên giá trị tài sản được hưởng và 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) án phí đối với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản, tổng cộng ông T chịu là 41.921.000 đồng (bốn mươi mốt triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng). Khấu trừ tiền ứng án phí ông T nộp là 2.500.000 đồng, theo biên lai thu số 0021524, ngày 15/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh nên ông T phải nộp là 39.421.000 đồng (ba mươi chín triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn đồng).

    Hoàn trả bà Nguyễn Thị P tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.750.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), theo biên lai thu số 0021810, ngày 16/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

  6. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Cao Thị N được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao Hà Nội - Vụ giám đốc kiểm tra. Vụ 2
  • - TAND Cấp cao
  • - VKSND Cấp cao
  • - VKSND tỉnh;
  • - TAND TX H.T.;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TX HT,TN;
  • - Phòng KTNV;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2024/DS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp “thừa kế tài sản” và “thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”

  • Số bản án: 184/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Thừa kế tài sản” và “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thừa kế tài sản” và “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger