|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN Bản án số: 184/2024/HS-ST Ngày: 28-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Chí Lin – Cán bộ hưu trí;
Bà Trần Thị Đổi – Cán bộ hưu trí;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên;
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 191/2024/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn H (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 27/01/1998.
Nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không có; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H1, sinh năm: 1973 (sống) và bà Trần Thị Đ, sinh năm: 1973 (sống); Vợ: Huỳnh Tuyết T, sinh năm 2000; Con: 01 người sinh năm 2017; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Trần Văn H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An đến nay. Bị cáo có mặt.
Người chứng kiến:
- Chị Phạm Thạch B XuyênHuỳnh T, sinh năm 2005, vắng mặt.
- Anh Phạm Diệp Trường P, sinh năm 2006, vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 11/6/2024, Trần Văn H điện thoại qua mạng Zalo cho người tên H2 (không xác định nhân thân, lai lịch) hỏi mua chất ma túy (dạng đá) để sử dụng, H2 đồng và hẹn gặp H tại đoạn đường vắng ở G thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An để giao chất ma túy. H thuê xe mô tô Grab của người thanh niên (không xác định nhân thân, lai lịch) đi từ khu dân cư X thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An đến điểm hẹn với H2. Khi đi đến gần điểm hẹn với H2 khoảng 20m thì H kêu người thanh niên chạy xe mô tô Grab dừng lại chờ bên ngoài, H đi bộ vào gặp H2 mua 01 túi chất ma túy (dạng đá) với giá 200.000 đồng. H trả tiền cho H2 rồi cầm lấy túi ny lon đựng chất ma túy (dạng đá) đi ra và lên xe mô tô G về căn nhà hoang không người trong coi thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. H cất túi chứa chất ma túy (dạng đá) trên bàn gỗ rồi ngồi bấm điện thoại. Đến khoảng 22 giờ 05 phút cùng ngày, H lấy túi nylon chứa chất ma túy (dạng đá) trong bàn gỗ ra để sử dụng thì bị Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Long An vào kiểm tra bắt quả tang.
Vật chứng tạm giữ gồm: 01 túi nylon rãnh khép viền xanh bên trong chứa tinh thể màu trằng nghi là ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14, màu tím.
Tại Bản kết luận giám định số 425 ngày 17/6/2024 của phòng K công an tỉnh L kết luận:
“Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền xanh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1853 gam, loại Methamphetamine.
Kèm theo kết luận giám định: Không có.
H3 lại đối tượng giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,0928 gam, được đóng gói niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 425".
Tại bản cáo trạng số 188/CT-VKSĐH ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo Trần Văn H gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt xử phạt bị cáo Trần Văn H mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024;
2
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn H 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 11 năm 2024) để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14, màu tím được bị cáo Trần Văn H sử dụng làm phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu bán thu tiền nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,0928 gam, được đóng gói niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 425 của Phòng K Công an tỉnh L là tang vật của vụ án, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Trần Văn H không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị không đề cập, xem xét.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Văn H thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với người thanh niên tên H2 có hành vi bán chất ma túy cho bị can Trần Văn H, kết quả điều tra không xác định được nhân thân lai lịch đối với H2, chỉ có chứng cứ là lời khai duy nhất của H nên không có căn cứ xử lý.
Đối với người thanh niên (không xác định nhân thân, lai lịch) chạy xe mô tô G1 ở ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An chở H đi mua ma túy do không xác định được nhân thân lai lịch, chỉ có chứng cứ là lời khai duy nhất của H nên không có căn cứ xử lý.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đánh giá về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
3
Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử:
[2.1]. Hành vi khách quan của bị cáo Trần Văn H đã thực hiện:
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất khai nhận: Khoảng 22 giờ 05 phút ngày 11/6/2024, tại căn nhà hoang không người trông giữ thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, Trần Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1853 gam, loại Methamphetamine trên bàn gỗ nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Long An kiểm tra bắt quả tang.
[2.2]. Nhận định của Hội đồng xét xử:
Xét lời khai nhận của bị cáo Trần Văn H trước tòa hoàn toàn phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã M lập vào lúc 22 giờ 20 phút ngày 11/6/2024; phù hợp với Bản kết luận giám định số: 425/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K, Công an tỉnh L; phù hợp với các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Bị cáo Trần Văn H là người nghiện ma túy, khoảng 22 giờ 05 phút ngày 11/6/2024, Trần Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 0,1853 gam, loại: Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Trần Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Văn H theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi của bị cáo H là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, ma túy gây tổn hại sức khỏe con người, gây mất trật tự xã hội. Khi thực hiện hành vi, bị cáo H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được ma túy bị nghiêm cấm sử dụng và sẽ ảnh hưởng xấu đến bản thân bị cáo và xã hội nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo Trần Văn H cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án tương xứng với hành vi, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo Trần Văn H:
Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo Trần Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 0,1853 gam nhằm mục đích sử dụng, thuộc tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên xét xử theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
4
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .
Tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo H còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo H trình bày có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn H.
[5]. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Trần Văn H không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập, xem xét
[6]. Về tang vật: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy mẫu tang vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,0928 gam, được đóng gói niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 425 của Phòng K Công an tỉnh L.
Tịch thu bán thu tiền nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14, màu tím của bị cáo Trần Văn H sử dụng làm phương tiện phạm tội.
[7]. Đối với người thanh niên tên H2 có hành vi bán chất ma túy cho bị can Trần Văn H, kết quả điều tra không xác định được nhân thân lai lịch đối với H2, chỉ có chứng cứ là lời khai duy nhất của H nên không có căn cứ xử lý.
Đối với người thanh niên (không xác định nhân thân, lai lịch) chạy xe mô tô G1 ở ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An chở H đi mua ma túy do không xác định được nhân thân lai lịch, chỉ có chứng cứ là lời khai duy nhất của H nên không có căn cứ xử lý.
[8]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn H 45 ngày kể từ ngày tuyên án (28/11/2024) để đảm bảo thi hành án.
- Về tang vật: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: mẫu tang vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,0928 gam, được đóng gói niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 425 của Phòng K Công an tỉnh L.
- Tịch thu bán thu tiền nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 14, màu tím của bị cáo Trần Văn H.
(Các tang vật trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 36-15/11/2024 ngày 15/11/2024).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Buộc bị cáo Trần Văn H nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN KHẮC LINH DUY |
6
7
Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 184/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm c khoản 1 Điều 249
