TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 184/2024/HS-ST Ngày: 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Văn Tôn, nghề nghiệp: Giáo viên
- Bà Nguyễn Thị Thanh, nghề nghiệp: Nguyên Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ phường Nam Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 145/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng Q (tên gọi khác: không có), sinh ngày 15 tháng 6 năm 2000 tại Thái Nguyên; nơi thường trú: tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H và bà Vũ Thị É; có vợ là Ma Thị T và 01 con sinh năm 2021; tiền án: 01, tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Hồng Q 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/3/2024 nên chưa được xóa án tích); tiền sự: không có.
Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 31/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Tiến M, sinh năm: 2002; địa chỉ: tổ dân phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Mai Thu P, sinh năm: 2006; địa chỉ: tổ dân phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của chị Mai Thu P: Bà Bùi Thị H1, sinh năm: 1964; địa chỉ: tổ dân phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Việt H2, sinh năm: 1999; địa chỉ: tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Bà Vũ Thị É, sinh năm: 1981; địa chỉ: tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hồng Q là bạn bè quen biết với anh Nguyễn Tiến M. Ngày 17/7/2024, Q đến phòng trọ số B nhà T tại tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên là nơi anh M thuê trọ chơi và ở lại cùng anh M. Đến khoảng 20 giờ ngày 19/7/2024, chị Mai Thu P (là bạn của M) gọi điện cho anh M hỏi nhờ gửi chiếc xe máy điện nhãn hiệu TAKUMI, số loại MV màu tím, công suất 1.50kw, biển kiểm soát 20MĐ- 089.46 ở khu N nơi anh M thuê để sạc điện (do xe hết điện), thì anh M đồng ý. Khi chị P mang xe đến phòng trọ của anh M thì có gặp Q ở đó. Chị P đã giao xe, chìa khóa xe cho anh M quản lý và nhờ anh M sạc điện hộ rồi đi làm. Sau đó, anh M để chiếc xe máy điện của chị P gửi tại khu vực nhà để xe tầng 1 của nhà trọ sạc điện, còn chiếc chìa khóa anh M để trên giường trong phòng trọ của mình. Khoảng 09 giờ ngày 20/7/2024, lợi dụng lúc anh M đi về nhà không có mặt ở phòng trọ, Q đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Quảng lấy chiếc chìa khóa xe anh M để trên giường rồi đi xuống khu vực để xe lấy trộm chiếc xe máy điện mà chị P gửi anh M trước đó điều khiển xe đi đến cửa hàng Đ ở tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P và bán chiếc xe cho anh Nguyễn Việt H2 với giá 5.000.000 đồng. Do tin tưởng và quen biết với Q vì nhà Q cũng ở gần nhà anh H2 nên khi Q nói chiếc xe là của Q mới mua lại, chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ, Q có đưa cho anh H2 giấy đăng ký xe mang tên chủ xe là bà Bùi Thị H1, anh H2 tin tưởng nên đã đồng ý mua chiếc xe. Khi mua anh H2 yêu cầu Q viết giấy bán xe, giao giấy tờ đăng ký xe cho mình, đồng thời chụp lại hình ảnh Q cầm giấy bán xe và giấy đăng ký xe lưu trên điện thoại. Sau khi nhận tiền bán xe từ anh H2, Q đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 19 giờ ngày 20/7/2024, anh Nguyễn Tiến M đi về khu nhà trọ thì phát hiện không thấy chiếc xe máy điện của chị Mai Thu P gửi trước đó đâu nữa, nghi ngờ Q lấy trộm xe nên hôm sau (tức ngày 21/7/2024) anh M đã làm đơn trình báo gửi đến Công an phường Đ đề nghị giải quyết. Cùng ngày 21/7/2024, anh H2 đã tự nguyện giao cho Công an phường Đ chiếc xe máy điện, giấy chứng nhận đăng ký xe và hợp đồng mua bán xe cùng hình ảnh chụp Q cầm giấy bán xe cùng đăng ký xe lưu giữ trên điện thoại.
Tại Bản kết luận định giá số 75/KLĐG ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận: Giá trị còn lại của chiếc xe máy điện nhãn hiệu TAKUMI, số loại MV, màu sơn tím, công suất 1.50kw, biển kiểm soát 20MĐ-089.46 là 8.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hồng Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của Q phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu TAKUMI, số loại MV màu tím, công suất 1.50kw, biển kiểm soát 20MĐ-089.46 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 20 001527 đã được Cơ quan điều tra đã trả cho bà Bùi Thị H1 quản lý sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Tiến M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị H1, chị Mai Thu P không có yêu cầu giải quyết. Đối với số tiền 5.000.000 đồng do anh Nguyễn Việt H2 bỏ ra để mua chiếc xe máy điện từ Quảng. Quá trình điều tra, Q đã tác động đến gia đình, bà Vũ Thị É (là mẹ đẻ của Q) đã thay Q trả cho anh H2 toàn bộ số tiền 5.000.000 đồng, anh H2 không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 153/CT-VKSPY ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Hồng Q từ 18 - 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
Về vật chứng: không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hồng Q đều thừa nhận, khoảng 09 giờ ngày 20/7/2024, tại khu vực nhà để xe nhà trọ T thuộc tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Hồng Q đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu TAKUMI, số loại MV màu tím, công suất 1.50kw, biển kiểm soát 20MĐ-089.46 trị giá 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) là tài sản do anh Nguyễn Tiến M đang quản lý, sử dụng (Chiếc xe là của chị Mai Thu P gửi nhờ anh M để sạc điện, chị P và anh M đều xác định trong thời gian anh M quản lý xe, anh M có quyền sử dụng, nếu để xảy ra mất xe hoặc hư hỏng thì anh M phải hoàn toàn chịu trách nhiệm do đó xác định anh M là bị hại trong vụ án).
Lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng Q đã xâm phạm đến quyền tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.500.000 đồng nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật như sau:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Bản cáo trạng số 153/CT-VKSPY ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, mới chấp hành xong bản án từ tháng 3 năm 2024. Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động gia đình trả tiền mua xe cho anh H2 là người liên quan trong vụ án nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Hồng Q 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/3/2024, tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là người có nhân thân xấu, mới chấp hành án trở về hòa nhập cộng đồng nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng hình nghiêm khắc là hình phạt tù, buộc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên có căn cứ được chấp nhận.
[5] Về vật chứng: 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu TAKUMI đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý là phù hợp nên không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện không yêu cầu giải quyết về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Trong vụ án, anh Nguyễn Việt H2 là người mua chiếc xe máy điện của Q. Tuy nhiên, anh H2 không biết chiếc xe là tài sản do trộm cắp mà có nên hành vi của anh H2 không cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh H2 là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt Nguyễn Hồng Q 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Xuân Lộc |
Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 184/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Q phạm tội trộm cắp tài sản
