|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 184/2024/DS-ST
Ngày: 25/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Liên
Bà Nguyễn Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 92/TLST-DS, ngày 13 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/QĐST- DS ngày 08/11/2024 giữa:
Nguyên đơn:
- Ông Trần Đình Q, sinh năm 1944, HKTT: thôn Đ, xã P, huyện Đ, TP Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953, HKTT: thôn Đ, xã P, huyện Đ, TP Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T: anh Phạm Ngọc L, sinh năm 1995, HKTT: P1815 Rice city, phường T, quận L, TP Hà Nội.
Bị đơn:
Anh Bạch Tuấn A, sinh năm 1979. HKTT: số 30 Y, tổ D, phường P, quận H, TP Hà Nội. Hiện ở: P1912, CT3A Khu đô thị V, Y, phường P, quận H, TP Hà Nội.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Văn Q1, sinh năm 1978, HKTT: thôn Đ, xã P, huyện Đ, TP Hà Nội.
- Bà Cao Thị L1, sinh năm 1977, HKTT: thôn L, xã P, huyện Đ, TP Hà Nội. Hiện đang chấp hành án phạt tù Trại giam P - tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 312/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 11/2015/HSPT-QĐ ngày 26/01/2015 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội-Tòa án nhân dân tối cao có nội dung:
Tháng 9 năm 2011, Trần Văn Q1 đến nhà Cao Thị L1 hỏi vay 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). L1 đồng ý và nói với Q1 muốn vay được số tiền trên thì phải ký hợp đồng sang tên sổ đỏ mang tên Q1 cho người có tiền để họ cho vay. Q1 nói không có sổ đỏ mang tên Q1 mà chỉ có sổ mang tên bố mẹ Q1. L1 bảo Q1 nếu bố mẹ Q1 ký hợp đồng sang tên sổ đỏ bố mẹ Q1 kèm theo bản photo chứng minh, sổ hộ khẩu của bố mẹ Q1 cũng được. Q1 đưa cho L1 sổ đỏ mang tên bà Nguyễn Thị T (mẹ Q1) và ông Trần Đình Q (bố Q1) và các giấy tờ nêu trên đưa cho L1. L1 gọi điện cho Bạch Tuấn A ở P, Đ, TP Hà Nội và nói có người muốn vay 200.000.000 đồng bằng việc sang tên sổ đỏ cho Bạch Tuấn A, Bạch Tuấn A đồng ý. Sau đó, L1 lấy 05 bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà Bạch Tuấn A đã ký sẵn dưới phần đại diện bên B (bên nhận chuyển nhượng) đưa cho Q1 và bảo Q1 mang về nhà cho bố mẹ Q1 ký tên vào dưới phần đại diện bên A (bên chuyển nhượng). Quyết đã tự ký tên vào phần chữ ký của ông Q và bà T rồi đưa lại cho L1. L1 đưa cho Q1 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Sau khi Q1 nhận tiền và đi về, L1 mới viết các nội dung vào hợp đồng rồi mang hồ sơ hợp đồng đến nhà ông Hoàng Văn T1 nhờ chứng thực và đưa cho ông T1 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Sau đó L1 đưa hồ sơ cho Phạm Thu V làm thủ tục sang tên cho Bạch Tuấn A. Sau khi sổ đỏ đã được sang tên cho Bạch Tuấn A, Bạch Tuấn A giao cho L1 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), L1 nhận và đã đưa thêm cho Q1 100 triệu đồng. Q1 nhận 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) và đưa lại cho L1 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). L1 đã sử dụng hết số tiền này. Bà T và ông Q không biết việc Q1 viết và ký chữ viết chữ ký của bà T, ông Q trong hợp đồng trên. Sau khi L1 bị bắt, Q1 đã thỏa thuận với Bạch Tuấn A là Q1 trả lãi khoản tiền nêu trên và cùng với Bạch Tuấn A làm biên bản cam kết vay tiền. Bạch Tuấn A đồng ý và ký vào phần dưới phần đại diện bên B (bên cho vay) trong 02 biên bản cam kết rồi đưa cho Q1 mang về cho bố, mẹ Q1 viết và ký vào dưới phần đại diện bên A (bên thế chấp). Nhưng Q1 không mang biên bản về cho bố, mẹ Q1 ký mà Q1 tự viết nội dung thông tin và ký tên Q1 vào phần đại diện bên A vào biên bản trên và ghi vào ngày lập 02 biên bản trên là ngày 16/9/2011. Đến tháng 4/2012, Q1 đã trả lãi cho Bạch Tuấn A là 32.000.000 đồng. Số tiền 200.000.000 đồng kể trên Quyết cam kết khi nào Bạch Tuấn A trả sổ đỏ cho Q1 thì Q1 trả đủ tiền cho Bạch Tuấn A. Sổ đỏ trên Bạch Tuấn A đã thế chấp cho công ty cổ phần S tại số B L, M, H, Hà Nội.
Tại phần “Nhận thấy” của Bản án hình sự sơ thẩm số 321/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã nhận định: “Đối với việc anh Trần Văn Q1 có hành vi giả chữ ký của ông Q, bà T trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên sau khi sự việc xảy ra, giữa anh Q1 và anh Bạch Tuấn A có ký thỏa thuận về trách nhiệm trả nợ và anh Bạch Tuấn A biết tài sản Q1 thế chấp vay tiền không phải là tài sản do Q1 sở hữu. Do đó không cần thiết phải xử lý hình sự đối với Trần Văn Q1. Tại lời khai của anh Bạch Tuấn A chỉ đề nghị anh Q1 trả lại số tiền 200.000.000 đồng và lãi suất theo ngân hàng. Do có sự thỏa thuận trên nên giữa anh Q1 và anh Bạch Tuấn A là giao dịch dân sự và giao dịch này dùng tài sản bảo đảm không phải của anh Q1 nên là giao dịch vô hiệu. Vì vậy, buộc anh Q1 phải trả cho anh Bạch Tuấn A 200.000.000 đồng đã nhận từ bị cáo L1”.
Tại phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 321/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử phạt bị cáo Cao Thị L1 18 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, buộc anh Trần Văn Q1 phải trả cho anh Bạch Tuấn A 200.000.000 đồng, buộc công ty Cổ phần S, xuất nhập khẩu dệt may phải nộp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ quan thi hành án để trả lại cho ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T; Kiến nghị UBND huyện Đ điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp lại cho ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo L1 có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã rút toàn bộ kháng cáo. Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao đã có quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 11/2015/PT-QĐ ngày 26 tháng 01 năm 2015.
Ngày 27/3/2024, tại đơn khởi kiện vụ án dân sự vê việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
-Nguyên đơn - ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T trình bày:
-Quá trình thi hành án, Cục thi hành án dân sự đã trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Bạch Tuấn A cho vợ chồng ông bà. Ngày 30/11/2023, ông bà nộp hồ sơ xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Văn phòng Đ - chi nhánh huyện Đ. Văn phòng Đ - chi nhánh huyện Đ thông báo cho ông bà cần bổ sung hồ sơ. Theo nội dung thông báo, Văn phòng Đ đã có công văn số 5968/CNHĐP gửi Tòa án nhân dân TP Hà Nội về việc giải thích bản án số 321/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân TP Hà Nội. Sau khi ông bà làm việc với Tòa án nhân dân TP Hà Nội và Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh huyện Đ thì được hướng dẫn khởi kiện yêu cầu khởi kiện tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với ông Bạch Tuấn A.
Nay, ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Hà Đông tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 1394/HĐ-CN ký ngày 07/9/2011 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, TP Hà Nội giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A, yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ hủy bỏ đăng ký biến động ngày 15/9/2011 phần sang tên cho anh Bạch Tuấn A.
Tại đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện:
nguyên đơn không yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 1394/HĐ-CN ký ngày 07/9/2011 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, TP Hà Nội giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A mà yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 1394/HĐ-CN ký ngày 07/9/2011 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, TP Hà Nội giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật.
Về hậu quả hợp đồng vô hiệu:
- Không yêu cầu xem xét lỗi của hợp đồng vô hiệu và bồi thường thiệt hại do lỗi hợp đồng vô hiệu.
- Yêu cầu Tòa án tuyên ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T có quyền liên hệ Văn phòng Đ, chi nhánh huyện Đ để thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai (về hủy phần biến động ngày 15/9/2011 sang tên chủ sử dụng cho anh Bạch Tuấn A tại trang 2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 956750).
-Bị đơn - anh Bạch Tuấn A trình bày:
Bản án hình sự sơ thẩm số 321/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội không tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 1394/HĐ-CN ký ngày 07/9/2011 tại Ủy ban nhân dân xã P, TP Hà Nội giữa anh với ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T vô hiệu nên anh đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng nêu trên vô hiệu để ông Q bà T thực hiện thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
+Về quyền lợi của anh: Bản án hình sự sơ thẩm số 321/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định buộc anh Trần Văn Q1 phải trả cho anh 200.000.000 đồng, vì vậy anh không có yêu cầu gì khác.
Anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết và xét xử vụ án.
-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - anh Trần Văn Q1 trình bày:
nội dung vụ án đúng như trên. Anh đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất giữa anh Bạch Tuấn A với ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T vô hiệu vì bản chất hợp đồng là giao dịch vay tiền giữa anh và anh Bạch Tuấn A.
-Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Cao Thị L1:
hiện nay chị L1 đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam P - tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã ủy thác đến Trại giam P tống đạt văn bản tố tụng và lấy lời khai chị L1. Trại giam P đã thực hiện ủy thác và gửi kết quả ủy thác về Tòa án. Chị L1 đã nhận văn bản tố tụng, không có ý kiến gì, Tại bản tự khai, chị trình bày: quá trình giao dịch chuyển nhượng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 1394/HĐ-CN ký ngày 07/9/2011 tại Ủy ban nhân dân xã P, TP Hà Nội giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A đúng như nội dung vụ án đã nêu trên. Đề nghị Tòa án tạo điều kiện cho ông Q bà T. Hiện nay, chị đang chấp hành án tại trại giam, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại Kết luận giám định số 100/KL-KTHS ngày 22/7/2024 của Phòng K Công an T2 kết luận:
- Chữ viết, chữ ký dòng họ tên Nguyễn Thị T dưới chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Thị T trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 không phải là chữ do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ viết, chữ ký dòng họ tên Trần Đình Q dưới chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ ký, chữ viết đứng tên Trần Đình Q trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1, từ M5 đến M7 không phải là chữ do cùng một người ký và viết ra.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T là anh Phạm Ngọc L có mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời khai của ông Q bà T.
- Bị đơn là anh Bạch Tuấn A vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn Q1 có mặt, giữ nguyên lời khai.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Cao Thị L1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án.
-Về nội dung: Bản án hình sự sơ thẩm số 321/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội chưa giải quyết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A, vì vậy Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết vụ án dân sự giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A vô hiệu là đúng theo quy định của pháp luật.
Ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T không biết và không ký vào hợp đồng chuyển nhượng. Việc chứng thực hợp đồng chuyển nhượng do Cao Thị L1 mang đến nhà ông Hoàng Văn T1 - Chủ tịch UBND xã P nhờ chứng thực, khi chứng thực không có mặt bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng ký kết vào hợp đồng chuyển nhượng trước mặt đại diện UBND xã P. Vì vậy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A vô hiệu vì vi phạm điều cấm của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A vô hiệu
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
-Đối với việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận:
Bản án hình sự sơ thẩm số 321/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã giải quyết, quyết định ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T được nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 956750 do UBND huyện Đ cấp ngày 30/8/2010 đối với thửa đất số 450 tờ bản đồ số 2, thôn Đ, xã P, huyện Đ, TP Hà Nội. Anh Trần Văn Q1 phải trả cho anh Bạch Tuấn A 200.000.000 đồng. Bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật.
Ông T, bà Q vẫn quản lý nhà đất thửa đất số 450 tờ bản đồ số 2, thôn Đ, xã P, huyện Đ, TP Hà Nội từ trước đến nay.
Vì vậy, không xem xét các nội dung này.
Ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T có quyền liên hệ Văn phòng Đ, chi nhánh huyện Đ để thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định của Luật đất đai.
-Về án phí: theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định
[1].Về thẩm quyền: Bản án hình sự sơ thẩm số 312/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (đã có hiệu lực pháp luật) chưa giải quyết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A, bị đơn là anh Bạch Tuấn A có nơi cư trú tại quận H, TP Hà Nội vì vậy Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết vụ án dân sự giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự.
[3].Về nội dung:
Bản án hình sự sơ thẩm số 312/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật nên nội dung, quyết định của Bản án là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 tại Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ lời khai thống nhất của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này;
Căn cứ kết luận giám định số 100/KL-KTHS ngày 22/7/2024 của phòng K Công an T2;
-Đủ căn cứ xác định:
Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A về việc chuyển nhượng thửa đất số 450 tờ bản đồ số 2, thôn Đ, xã P, huyện Đ, TP Hà Nội, diện tích 361m2 (sau đây gọi tắt là hợp đồng chuyển nhượng) thì:
- Bên chuyển nhượng là ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T không biết và không ký Hợp đồng chuyển nhượng mà chữ ký, chữ viết “Trần Đình Q” và “Nguyễn Thị T” tại Hợp đồng chuyển nhượng do anh Trần Văn Q1 là con trai ông Q, bà T tự viết và ký, không có ủy quyền của ông Q, bà T.
- Việc chứng thực hợp đồng chuyển nhượng do Cao Thị L1 mang đến nhà ông Hoàng Văn T1 - Chủ tịch UBND xã P nhờ chứng thực, khi chứng thực không có mặt bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng ký kết vào hợp đồng chuyển nhượng trước mặt đại diện UNND xã P.
Vì vậy, đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A nêu trên vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 123, khoản 3 Điều 132 của Bộ luật dân sự 2015.
*Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
-Đối với việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận:
+Bản án hình sự sơ thẩm số 321/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã giải quyết, quyết định ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T được nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 956750 do UBND huyện Đ cấp ngày 30/8/2010. Anh Trần Văn Q1 phải trả cho anh Bạch Tuấn A 200.000.000 đồng. Bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Ông T, bà Q vẫn quản lý nhà đất từ trước đến nay. Vì vậy, không xem xét các nội dung này.
+Ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T có quyền liên hệ Văn phòng Đ, chi nhánh huyện Đ để thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định của Luật đất đai.
-Về lỗi của hợp đồng vô hiệu và bồi thường thiệt hại do lỗi của hợp đồng vô hiệu: các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
-Về án phí: bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí DSST có giá ngạch do nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
-Căn cứ Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
-Căn cứ Điều 123, Điều 131, khoản 3 Điều 132 Bộ luật dân sự 2015;
-Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
-Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T, cụ thể như sau:
-Tuyên bố Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 1394/HĐ-CN giữa ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T với anh Bạch Tuấn A chứng thực ngày 15/9/2011 quyền số 07, số 1394 tại UBND xã P, huyện Đ, TP Hà Nội (chuyển nhượng đối với thửa đất số 450, tờ bản đồ số 2, thôn Đ, xã P, huyện Đ, TP Hà Nội, diện tích 361m2, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 956750 do UBND huyện Đ cấp ngày 30/8/2010) vô hiệu. Ông Trần Đình Q, bà Nguyễn Thị T có quyền và nghĩa vụ liên hệ Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện Đ để thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai.
-Về hậu quả hợp đồng vô hiệu:
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 321/2014/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã giải quyết, quyết định ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T được nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 956750 do UBND huyện Đ cấp ngày 30/8/2010. Anh Trần Văn Q1 phải trả cho anh Bạch Tuấn A 200.000.000 đồng. Bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Ông T, bà Q vẫn quản lý nhà đất từ trước đến nay. Vì vậy, không xem xét các nội dung này.
+Về lỗi của hợp đồng vô hiệu và bồi thường thiệt hại do lỗi của hợp đồng vô hiệu: các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
-Về án phí: anh Bạch Tuấn A phải chịu 300.000 đồng án phí DSST. Ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí DSST, ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T được hoàn trả 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0043761 ngày 13/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.
Án xử công khai sơ thẩm, ông Trần Đình Q và bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Bạch Tuấn A, anh Trần Văn Q1, chị Cao Thị L1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được nêm yết hợp lệ.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
Bản án số 184/2024/DS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
- Số bản án: 184/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: DS Quỳ, Tân-Tuấn Anh
