|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 184/2024/HS-ST Ngày: 15-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Thường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Lệ
Bà Phan Thị Sơn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 182/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Hữu N; tên gọi khác: Ú; giới tính: Nam; sinh năm 1990 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi thường trú: Tổ H, ấp B, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Tổ E, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; có cha là ông Phạm Văn P và mẹ là bà Lê Thị T. Bị cáo có vợ là Trần Ngọc D, sinh năm 1991 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 21/01/2019 bị TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (BA số 04/2019/HSST).
Bị cáo bị áp bắt tạm giữ từ ngày 28/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Hữu N là người nghiện ma túy đá. Để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng, bị cáo nảy sinh ý định mua ma túy về vừa sử dụng, vừa bán lại cho người nghiện ma túy khác kiếm lời. Vào sáng ngày 26/6/2024, bị cáo N đi đến khu vực thuộc thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của một người đàn ông tên T1 (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy đá với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N mang về phòng trọ của N tại tổ E, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai chia nhỏ thành 14 gói ma túy, rồi cất giấu trong phòng trọ.
Khoảng 12 giờ ngày 28/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N đã mang theo 01 gói ma túy đá, thuê phòng số 107 của Nhà nghỉ M, thuộc khu phố P, phường M và lấy ra 01 ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại Ngưng cất giấu trong phòng. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, Công an thị xã P đã phối hợp với Công an phường M, kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ M đã phát hiện, bắt quả tang N có hành vi cất giấu ma túy để vừa sử dụng, vừa bán lại cho người khác. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen và số tiền 350.000 đồng. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của N tại tổ E, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và thu giữ được 13 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu, trong suốt; 01 cái kéo bằng kim loại.
Tại Kết luận giám định số: 441/KL ngày 04/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận:
- + Một phong bì màu trắng được niêm phong (Số thứ tự 01), có hình dấu của Công an phường M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Đỗ Long V, Dương Văn T2, Dương Ngọc V1, Phạm Hữu N, Đào Minh C, bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu – trong suốt (ký hiệu Mẫu A1) có khối lượng 0,2740 gam, là ma túy, loại Methamphetamine;
- + Một phong bì màu trắng được niêm phong (Số thứ tự 02), có hình dấu của Công an xã P, tỉnh Đồng Nai, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Lê Hùng T3, Nguyễn Thành P1, Huỳnh Thanh C1, Trần Ngọc D, Dương Văn T2, Phạm Hữu N, bên trong có 13 (mười ba) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu – trong suốt (ký hiệu Mẫu A2) có khối lượng 2,1016 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong (được đánh số thứ tự 01, 02) đề số 441 ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký, họ và tên của ông: Trung tá Nguyễn D1, Hoàng Thị Mai L, Nguyễn Trường Minh P2; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen; 01 cái kéo bằng kim loại và số tiền 350.000 đồng. Hiện đã được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 166/CT-VKS ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Phạm Hữu N về tội “Mua bán phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ thực hiện quyền công tố trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra; phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố Phạm Hữu N. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng Khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 4 đến 5 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Phạm Hữu N khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến gì về bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1]. Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 28/6/2024 tại khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phạm Hữu N đã có hành vi cất giấu 2,3756 gam Methamphetamine nhằm mục đích vừa sử dụng, vừa bán lại cho người khác kiếm lời thì bị bắt quả tang.
Do đó, hành vi của Phạm Hữu N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:
- [3.1]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- [3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [3.3]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
- [4]. Về tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội và mức hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
- [5]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.
- [6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong (được đánh số thứ tự 01, 02) đề số 441 ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá và 01 cái kéo bằng kim loại không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IM 35772314709666 bị cáo sử dụng để liên hệ mua trái phép chất ma túy nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo 350.000 đồng vì không liên quan đến hành vi phạm tội.
- [7]. Về các vấn đề khác:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P tiếp tục điều tra, xác minh nhân thân lai lịch, hành vi phạm tội của đối tượng T1. Khi điều tra có kết quả sẽ xử lý trong một vụ án khác.
- [8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Phạm Hữu N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Phạm Hữu N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 6 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong (được đánh số thứ tự 01, 02) đề số 441 ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá và 01 cái kéo bằng kim loại.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IM 35772314709666.
Trả lại cho bị cáo số tiền 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).
(Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 07/BB-CCTHADS ngày 22/10/2024 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ; Biên lai thu tiền số 0002739 ngày 22/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ).
3. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Thường |
Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 184/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Hữu N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
