|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 184/2024/HS-PT
Ngày 24 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
Bà Triệu Thị Luyện
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Giang- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 24/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 201/TLPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo Phan Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Phan Văn Tuấn
Họ và tên: Phan Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/01/1966 tại: Huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 07/10; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Phan Văn H1, đã chết; Mẹ đẻ: Giáp Thị N, đã chết; Vợ: Hoàng Thị G, sinh năm 1984 (kết hôn lần thứ hai); Con: Có 05 con. lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ 18/3/2024 đến nay. Hiện đang tại ngoại ở nơi cư trú. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn P- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Có mặt.
- Bị hại: Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Thân Thị P1 không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn T và ông Hoàng Văn T1 là hàng xóm, nhà ở cạnh nhau. Giữa ông T1 và T thường xảy ra mâu thuẫn cãi, chửi nhau trong cuộc sống hàng ngày. Khoảng 20 giờ ngày 06/02/2024, T điều khiển xe mô tô từ nhà mình đi vào trung tâm xóm T có việc riêng, khi ra đến gần khu vực giao giữa lối đi nhà T và nhà ông T1 thì T gặp ông T1 đang cầm một con dao đứng ở đó khua khoắng, chửi T. Do bực tức, T dừng xe lại, xuống xe, để xe tại đó rồi chạy về nhà mình lấy ra 01 đoạn gậy gỗ màu nâu dài 153cm, đường kính 2,5cm đi ra vị trí ông T1 đứng. Thấy ông T1 vẫn cầm dao khua khoắng, T dùng hai tay cầm gậy gỗ đập mạnh vào cẳng chân (gióng chân) trái của ông T1, ông T1 ngã xuống đất, rơi dao ra ngoài, T tiếp tục dùng hai tay cầm gậy gỗ đánh thêm 02 nhát vào cẳng chân trái của ông T1, rồi dùng chân phải đạp 03 nhát vào vùng bụng ông T1. Lúc này bà Thân Thị P1, sinh năm 1966 (là vợ ông T1) và ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1966, cùng trú tại thôn H, xã T, huyện L đến can ngăn và đưa ông T1 đến Trung tâm y tế huyện L cấp cứu. Sau khi đánh gây thương tích cho ông T1, T cầm đoạn gậy gỗ cùng dao của ông T1 mang về nhà mình cất giữ.
Cùng ngày 06/02/2024, Công an xã T tiếp nhận tin báo, thu giữ vật chứng gồm 01 đoạn gậy gỗ màu nâu, tổng chiều dài 153cm, đường kính khoảng 2,5cm; 01 con dao dạng dao phay, tổng chiều dài 40cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 7,6cm, trên lưỡi dao có chữ “P-Hội Vip” do T giao nộp. Ngày 12/02/2024, Công an xã T chuyển tài liệu, hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 15/02/2024, Phan Văn T đến Công an huyện L đầu thú khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân.
Ông Hoàng Văn T1 điều trị tại Trung tâm y tế huyện L từ ngày 06/02/2024 đến 07/02/2024 thì ra viện. Tại Giấy chứng nhận thương tích ban đầu ngày 21/02/2024 của Trung tâm y tế huyện L xác định thương tích lúc vào viện của ông Hoàng Văn T1 như sau: Thái dương trái vết thương kích thước 0,5 cm, chảy máu, đã cầm; cẳng chân trái sưng nề, bầm tím 1/3 trên kích thước (5x5)cm, sây sát da kích thước (2x2)cm; Xquang hình ảnh gãy đầu trên hai xương cẳng chân trái.
Ngày 29/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định mức độ tổn hại sức khỏe, cơ chế, chiều hướng, lực tác động, vật tác động hình thành thương tích của Hoàng Văn T1. Tại Bản kết luận giám định về thương tích số 2138/24/KLTTCT-TTPY ngày 08/3/2024 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
- “- Chạm thương thái dương trái không còn dấu vết: 0%.
- - Bột cố định đùi - cẳng - bàn chân trái + Xquang cẳng chân trái: Hình ảnh gãy đầu trên hai xương cẳng chân trái sau điều trị, trục thẳng: 18%. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hoàng Văn T1 tại thời điểm giám định là 18% (mười tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- - Vật, cơ chế, chiều hướng, lực tác động gây thương tích: Các thương tích do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích. Thương tích vùng thái dương trái lực tác động không mạnh. Thương tích cẳng chân trái + Xquang: Hình ảnh gãy đầu trên 2 xương cẳng chân trái lực tác động mạnh”.
Tại Kết luận giám định số 2138B/24/KLVGTT-TTPY ngày 08/3/2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi (chiếc gậy bằng gỗ, màu nâu đỏ, hình trụ tròn, đã qua sử dụng, chiều dài 153cm, đường kính 2,5cm) gây ra được các thương tích cho Hoàng Văn T1.
Ngày 14, 15/3/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Phan Văn T và ông Hoàng Văn T1 xác định vật chứng của vụ án do Phan Văn T giao nộp. Kết quả Phan Văn T và Hoàng Văn T1 đều xác định đúng chiếc gậy gỗ màu nâu, tổng chiều dài 153cm, đường kính khoảng 2,5cm là hung khí T dùng gây thương tích cho ông T1; 01 con dao dạng dao phay, tổng chiều dài 40cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 7,6cm, trên lưỡi dao có chữ “P-Hội Vip” là của ông Hoàng Văn T1.
Ngày 03/5/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Phan Văn T thực nghiệm lại hành vi gây thương tích của bản thân. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ được.
Ngày 07/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L, ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung cơ chế, chiều hướng, động tác, lực hình thành thương tích đối với ông Hoàng Văn T1. Tại bản Kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 2286/24/KLTTCT-PY ngày 17/5/2024 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:" Dựa vào hồ sơ, tài liệu; Biên bản thực nghiệm điều tra; Bản ảnh thực nghiệm điều tra; Vật gửi giám định kết luận: Theo tình huống thực nghiệm điều tra theo lời khai của Hoàng Văn T1 và Phan Văn T gây được thương tích gãy hai đầu trên 2 xương cẳng chân trái cho ông Hoàng Văn T1. Chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lực tác động hình thành thương tích trên của ông Hoàng Văn T1 mạnh. Không xác định được có gây nên thương tích chạm thương thái dương trái không còn dấu vết của ông Hoàng Văn T1 hay không."
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn đã quyết định:
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt bị cáo Phan Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 04/7/2024, bị cáo Phan Văn T kháng cáo phần hình phạt của bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Phan Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin hưởng án treo.
Bị cáo đã bồi thường hết cho bị hại. Bị cáo xác định có lỗi nhưng không đồng ý xin lỗi đối với bị hại.
Bị hại là ông Hoàng Văn T1 trình bày: Ông đã nhận đủ tiền bồi thường của bị cáo. Ông không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử không cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
+ Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
+ Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134- Bộ luật hình sự.
Sau khi phân tích tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phan Văn T. Giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.
Về kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo T: Mặc dù bị cáo có nhiều tính tiết giảm nhẹ nhưng bản thân bị cáo chưa thực sự ăn năn hối cải. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo trở thành người có ích và biết tuân thủ pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo; đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự sửa bản án sơ thẩm số 79/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Phan Văn T, tuyên phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
Trợ giúp viên pháp lý trình bày lời bào chữa: Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã bồi thường khắc phục hậu quả nên đề nghị HĐXX giam nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo nộp đơn kháng cáo đến Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang trong hạn luật định theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Phan Văn T, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như quyết định của Bản án sơ thẩm là đúng, không oan. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại; lời khai của người làm chứng, phù hợp với giấy chứng nhận thương tích, kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do vậy đủ căn cứ xác định khoảng 20 giờ ngày 06/02/2024, tại khu vực cổng đi vào nhà Phan Văn T thuộc thôn H, xã T, huyện L, T đã có hành vi dùng 01 chiếc gậy gỗ màu nâu dài 153cm, đường kính 2,5cm là hung khí nguy hiểm đánh khoảng 03 phát vào gióng chân ông Hoàng Văn T1 và dùng chân phải đạp 03 phát vào vùng bụng ông T1. Hậu quả, ông T1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%.
Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phan Văn T phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134- Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo với mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý giây thương tích” là phù hợp, tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Tại quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo Phan Văn T có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại được quy định tại điểm b khoản 1 điều 51- Bộ luật hình sự. Do vậy, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo về xin giảm nhẹ hình phạt, giảm một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.
Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo xác định có lỗi với bị hại nhưng không đồng ý xin lỗi bị hại, do đó xác định bị cáo chưa thực sự ăn năn hối cải, thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích và biết tuân thủ pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 23- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Văn T, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về xin hưởng án treo. Sửa Bản án sơ thẩm số 79/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, Bắc Giang.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38- Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phan Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 184/2024/HS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 184/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
