|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 184/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15-7-2024 V/v ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến Ông Đặng Thiên Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐ-ST ngày 14/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 91/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phan Văn H, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Cao Thị T, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Xuân Đông, xã Xuân Phú, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Nơi thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: thôn X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Hiện lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Phan Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh và chị T được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 15/3/2002 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau kết hôn chị T về nhà anh làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên tháng 3/2023 chị T sang Đài Loan lao động. Thời gian đầu sau khi sang vợ chồng vẫn quan tâm hỏi thăm nhau nhưng sau một thời gian do khoảng cách địa lý xa xôi dẫn đến vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không có sự gắn bó, cả hai bỏ mặc cuộc sống của nhau. Gia đình hai bên nhiều lần khuyên ngăn hòa giải nhưng tình trạng hôn nhân không cải thiện. Đến nay anh, chị T không còn liên lạc, không còn quan tâm, thương yêu nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Cao Thị T.
Về con chung: Anh, chị T có 02 con chung là cháu Phan Thị H1, sinh ngày 22/5/2003 và cháu Phan Mạnh H2, sinh ngày 29/11/2005. Hiện nay các cháu đều đã trưởng thành và có cuộc sống riêng nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh H trình bày: Do công việc bận nên anh xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc do Tòa án triệu tập, vắng mặt tất cả các phiên tòa xét xử và vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Chị Cao Thị T là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 26/4/2024 và 06/5/2024, bà Trần Thị Nghĩa 1 mẹ chị Cao Thị T cung cấp:
Về hôn nhân của chị T, anh H: Anh, chị được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị T về nhà anh H làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Năm 2023 chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Sau khi sang Đài Loan một thời gian anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Bà có khuyên bảo anh, chị bỏ qua mâu thuẫn về ở với nhau để cùng chăm sóc con nhưng không được.
Về con chung: chị T, anh H có 02 con chung là cháu Phan Thị H1, sinh ngày 22/5/2003 và cháu Phan Mạnh H2, sinh ngày 29/11/2005. Hiện nay các cháu đều đã trưởng thành.
Ngoài ra bà cho biết: Trước khi đi lao động tại Đài Loan chị T sinh sống cùng gia đình chồng tại thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Đài Loan chị T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Bà đã thông báo cho chị T biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn” giữa anh H và chị T. Chị T không có ý kiến phản hồi.
Tại phiên tòa, anh Phan Văn H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Cao Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Phan Văn H; Biên bản làm việc với bà Trần Thị Nghĩa 1 mẹ của chị Cao Thị T và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh H xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Cao Thị T không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh H và chị T là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56 khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn H; xử:
Về hôn nhân: anh Phan Văn H được ly hôn chị Cao Thị T.
Anh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Anh Phan Văn H khởi kiện xin ly hôn chị Cao Thị T. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Công văn số 7889/QLXNC-P3 ngày 22/4/2024 của Cục Q - Bộ C cung cấp, chị T xuất cảnh gần nhất ngày 26/02/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, chị T được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, chị T là bị đơn có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có bị đơn là chị T ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về việc vắng mặt đương sự: Đối với nguyên đơn: anh Phan Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Đối với bị đơn chị Cao Thị T vắng mặt: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và bà Trần Thị N (mẹ chị T) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của chị T ở Việt Nam là: thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị T thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho chị T biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn” giữa anh Phan Văn H và chị Cao Thị T. Gia đình chị T cho biết chị T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị T không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị T tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4]. Về hôn nhân: Anh Phan Văn H và chị Cao Thị T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 15/3/2002 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên anh đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Cao Thị T.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh H với chị T, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh H và chị T chung sống hòa thuận. Năm 2023 chị T đi lao động tại nước ngoài. Thời gian đầu sau khi sang vợ chồng vẫn hạnh phúc nhưng sau đó một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Mặt khác, tại các biên bản làm việc với mẹ chị T xác định được chị T, anh H đã phát sinh mâu thuẫn sau khi chị T đi lao động tại Đài Loan một thời gian. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị T, anh H đã ly thân nhau một thời gian dài, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H với chị T là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5]. Về con chung: Do các con chung của anh H, chị T đều đã trưởng thành anh H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6]. Về tài sản, công nợ chung: Do anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Anh Phan Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[8]. Về quyền kháng cáo:
Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, anh H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị T đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa, nên thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: Anh Phan Văn H được ly hôn chị Cao Thị T.
- Về án phí: Anh Phan Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001141 ngày 11/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Phan Văn H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
- Anh Phan Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Chị Cao Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 184/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 184/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa anh H và chị T
