|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 184/2023/DS- ST Ngày: 14/8/2023. V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và Xử lý tài sản bảo đảm |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Thịnh Quang Thắng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Lê Thị Minh Nhàn |
| Ông Nguyễn Hữu Đệ. |
Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hải Yến- Thư ký Toà án nhân dân Huyện Đông Anh, Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Doãn Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 148/2023/TLST - DS ngày 23 tháng 5 năm 2023 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản bảo đảm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXX-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2023/QĐ-ST ngày 02/8/2023; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (L); Địa chỉ trụ sở: Tầng A, 3, 4, 5, 6, Tòa nhà T, số B T, phường T, quận H, Hà Nội do ông Nguyễn Đức T – Tổng giám đốc là đại diện theo pháp luật.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Mai A, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện Đ, Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1953 cư trú tại thôn Đ, xã D, huyện Đ, Hà Nội
- 3.2. Anh Nguyễn Ngọc A1, sinh năm 1990; cư trú tại thôn Đ, xã D, huyện Đ, Hà Nội
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: Bà Đinh Thị Thanh T1– Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng LPbank
Có mặt: Bà T1, bà Mai A2, anh Ngọc A1, bà T2
NHẬN THẤY
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/4/2023 và bản tự khai tiếp theo, nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Mai A vay Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Đ tổng số tiền là : 1.250.000.000 VND (Một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng chẵn./.) theo Hợp đồng tín dụng số HDTD1032020284 ngày 15/12/2020 và Hợp đồng tín dụng số HDTD1032021319 ngày 17/11/2021, cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số HDTD1032020284 ngày 15/12/2020 với nội dung: Số tiền cho vay: 1.200.000.000 VND (Một tỷ hai trăm triệu đồng chẵn./.) ; Mục đích vay: Hoàn vốn tiền mua đất; Thời hạn vay: từ 07/08/2018 đến hết ngày 06/08/2021. Lãi suất cho vay, phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: được quy định cụ thể trong Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ. Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Hợp đồng tín dụng số HDTD1032021319 ngày 17/11/2021 với nội dung: Hạn mức: 50.000.000 VND (Năm mươi triệu đồng chẵn./.) ; Mục đích vay: Phục vụ mục đích tiêu dùng và các mục đích khác hợp pháp của bên vay và gia đình Bên vay phù hợp với quy định của Pháp luật và Ngân hàng. Thời hạn cấp Hạn mức thấu chi: 12 tháng (từ ngày 17/11/2021 đến ngày 16/11/2022); Lãi suất: 11.7%/năm. Lãi suất cho vay, phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: được quy định cụ thể trong Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ. Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Ngày 28/02/2021, bà Nguyễn Mai A có vay của Ngân hàng TMCP B số tiền 100.000.000 đồng theo Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế. Khách hàng đã được cấp thẻ tín dụng, tạm tính đến ngày 10/07/2023 khoản thẻ đã quá hạn ngày với tổng số tiền quá hạn là 99.911.948 đồng. Trong đó, nợ gốc: 99.747.365 đồng, nợ lãi quá hạn: 164.583 đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà Mai A2 đã thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 56, địa chỉ: thôn Đ, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 192005, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐA 48484 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 19/10/2020 mang tên bà Nguyễn Mai A. Tài sản bảo đảm đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Đ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC103202090 do Văn phòng C chứng nhận ngày 11/12/2020. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản bảo đảm cho khoản vay.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Mai A đã trả được tổng số tiền là: 163.658.516 đồng, trong đó: gốc đã trả là 55.000.000 đồng, lãi đã trả là 108.658.516 đồng.
Do không trả được nợ đến hạn nên khoản vay của bà Nguyễn Mai A đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 20/09/2022. Kể từ khi khoản vay của bà Nguyễn Mai A phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với khách hàng để yêu cầu trả nợ, tất toán khoản vay nhưng bà Mai A2 không thực hiện.
Nay quan điểm của Ngân hàng như sau: Buộc bà Nguyễn Mai A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngay cho Ngân hàng TMCP B theo Hợp đồng tín dụng số HDTD1032020284 ngày 15/12/2020 và Hợp đồng tín dụng số HDTD1032021319 ngày 17/11/2021; Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/02/2021, với tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 10/07/2023 là:
| Hợp đồng tín dụng | Nợ gốc | Lãi trong hạn | Lãi quá hạn | Lãi phạt | Tổng gốc, lãi còn phải trả |
|---|---|---|---|---|---|
| HDTD1032018137 | 1.074.839.601 | 11.741.326 | 81.398.243 | 8.139.824 | 1.176.118.995 |
| HDTD1032021319 | 49.678.393 | 32.359 | 2.588.721 | - | 52.299.473 |
| Giấy đề nghị phát hành thẻ ngày 28/2/2021 | 99.747.365 | - | 164.583 | - | 99.911.948 |
| Tổng | 1.224.265.359 | 11.773.685 | 84.151.547 | 8.139.824 | 1.328.330.416 |
Ngày 13/7/2023, Ngân hàng có chấp thuận phương án miễn giảm lãi để cho chị Mai tất toán bộ khoản vay tại Ngân hàng với số tiền là 1.230.000.000đ. Thời hạn thực hiện là ngày 31.7.2023. Hết thời hạn trên mà khách hàng không thực hiện thì phương án miễn giảm lãi không còn hiệu lực mà khách hàng phải trả gốc lãi, lãi quá hạn, lãi phạt theo hợp đồng tín dụng đã ký.Trong thời gian chưa thanh toán hết khoản nợ bà Nguyễn Mai A phải chịu lãi suất quá hạn theo mức lãi suất quy định tại các Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ kèm theo cho đến khi tất toán khoản vay.Ngay sau khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Nguyễn Mai A không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP B được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại toàn bộ các tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ tại Ngân hàng, cụ thể như sau:
Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 56, địa chỉ: thôn Đ, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 192005, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐA 48484 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 19/10/2020 mang tên bà Nguyễn Mai A.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên bà Nguyễn Mai A phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP B.
Bà Nguyễn Mai A phải chịu toàn bộ án phí và các chi phí tố tụng liên quan trong vụ án.
* Bà Nguyễn Mai A trình bày: Bà nhất trí với quan điểm của Ngân hàng đã trình bày. Bà nhất trí với số tiền mà ngân hàng yêu cầu. Tính đến ngày 10/7/2023
bà còn nợ Ngân hàng là: Nợ gốc: 1.224..265.359 đồng; Nợ lãi trong hạn: 11.773.685 đồng; lãi quá hạn: 84.151.547 đồng, lãi chậm trả: 8.139.824 đồng; Tổng cộng: 1.328.330.416 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD1032020284 ngày 15/12/2020 và Hợp đồng tín dụng số HĐTD1032021319 ngày 17/11/2021; giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/2/2021
Để đảm bảo cho khoản vay trên bà đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 56 tại thôn Đ, xã D, huyện Đ, Hà Nội đã được cấp GCNQSD đất đứng tên bà Nguyễn Mai A. Việc thế chấp đã được công chứng chứng thực và đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền.
Ngày 13/7/2023, Ngân hàng có chấp thuận phương án miễn giảm lãi để cho bà tất toán bộ khoản vay tại Ngân hàng với số tiền là 1.230.000.000đ. Thời hạn thực hiện là ngày 31.7.2023. Hết thời hạn trên mà bà không thực hiện thì phương án miễn giảm lãi không còn hiệu lực mà bà phải trả gốc lãi, lãi quá hạn, lãi phạt theo hợp đồng tín dụng đã ký.
Nay quan điểm của bà nhất trí trả nợ Ngân hàng. Bà nhất trí để cho gia đình anh Ngọc A1 cắt một phần đất để bán trả nợ cho Ngân hàng, còn thiếu thì gia đình anh Ngọc A1 phải bù vào phần còn thiếu. Còn nếu gia đình anh Ngọc A1 không đồng ý bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Còn đối với việc vay nợ giữa bà và anh Ngọc A1 bà không yêu cầu Toà án giải quyết. Việc chuyển nhượng đất giữa bà và gia đình anh là hoàn toàn hợp pháp.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Ngọc A1 trình bày: Năm 2020, gia đình anh có nợ Ngân hàng B1 khoản nợ 800.000.000đ và thế chấp nhà đất thửa đất số 20, tờ bản đồ số 56 tại thôn Đ, xã D, huyện Đ, Hà Nội trong vụ án này và không có khả năng thanh toán. Sau đó gia đình anh có được anh T3 giới thiệu chị Mai A2 để vay số tiền trên với lãi suất 2.000đ/1 triệu/1 ngày để đáo hạn Ngân hàng. Sau đó thì gia đình anh đi vay tiền một phần và chị M cho vay thêm một phần để rút sổ đỏ thửa đất trên. Sau khi rút sổ đỏ, anh không vay tiếp được vì anh thuộc diện nợ xấu nên chị Mai A2 bảo gia đình anh làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên để chị đứng ra vay tiền Ngân hàng. Sau đó chị Mai A2 bảo chị cũng không vay được tiền, gia đình anh bảo chị Mai A2 chuyển lại quyền sử dụng đất cho gia đình anh thì chị Mai A2 bảo khi nào trả đủ gốc lãi số tiền đã vay thì chị Mai A2 mới chuyển lại đất cho gia đình anh. Gia đình anh nhất trí cắt một 100m² trong tổng diện tích thửa đất trên để bán trả nợ Ngân hàng. Chị Mai A2 đã nhiều lần khất lần nhưng không thực hiện như cam kết. Nay quan điểm của gia đình anh nhất trí cắt trả chị Mai A2 100m² tương đương số tiền gia đình anh đã vay để bán trả nợ Ngân hàng. Còn lại chị M phải cắt trả lại diện tích đất còn lại của gia đình anh.+ Bà Nguyễn Thị T4 trình bày: Nhất trí với ý kiến quan điểm anh Ngọc A1 đã trình bày.Tại phiên tòa:* Nguyên đơn xác định: Tính đến ngày 14/8/2023, bà Mai A2 còn nợ ngân hàng Nợ gốc: 1.224..265.359 đồng; Nợ lãi trong hạn: 11.773.685 đồng; lãi quá hạn: 109.019.506 đồng, lãi chậm trả: 10.174.508 đồng; Tổng cộng: 1.355.233.058 đồng theo Hợp đồng tín dụng số
HDTD1032020284 ngày 15/12/2020 và Hợp đồng tín dụng số HDTD1032021319 ngày 17/11/2021; Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/02/2021. Nay ngân hàng yêu cầu bà Mai A2 phải trả nợ ngay cho Ngân hàng số tiền vay trên và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký trên dư nợ gốc thực tế. Trong trường hợp bà Mai A2 không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ bà Mai A2 vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi khoản nợ được tất toán.* Bà Mai A2 trình bày: Bà không có ý kiến gì về nợ gốc, lãi và tài sản thế chấp mà Ngân hàng đã trình bày. Bà đề nghị Ngân hàng gia hạn thời gian cho bà trong thời gian 6 tháng để thu xếp và thoả thuận với gia đình anh Ngọc A1 để trả nợ Ngân hàng như phương án mà Ngân hàng đã gia hạn và chốt nợ cho bà. Trong trường hợp bà không trả được nợ thì bà chấp nhận xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.* Anh Ngọc A1 trình bày: Anh xác định có ký chuyển nhượng đất cho chị Mai A2. Gia đình Anh và chị Mai A2 có thoả thuận về việc chỉ bán 100m² đất chứ không phải bán toàn bộ. Anh yêu cầu chị Mai A2 phải thực đúng thoả thuận. Anh không có ý kiến gì về hợp đồng thế chấp và hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và chị Mai A2. Anh không có yêu cầu độc lập về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình anh và chị Mai A2 và việc vay nợ giữa gia đình anh và chị Mai A2. Anh chỉ yêu cầu chị Mai A2 thực hiện đúng thoả thuận giữa các bên.
* Bà T4 trình bày: Bà hất trí như ý kiến của anh Ngọc A1.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như của các đương sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 244 BLTTDS; Căn cứ Điều 302, 305, 342, 343, 344, 351, 355, 471, 474, 476, 478, 715, 721 BLDS năm 2005;
- - Khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 ngày 29/12/2006.
- - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
+ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn về tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản bảo đảm.
+ Buộc bị đơn phải trả toàn bộ gốc lãi còn lại tính đến ngày 14/8/2023, bà Mai A2 còn nợ ngân hàng Nợ gốc: 1.224..265.359 đồng; Nợ lãi trong hạn:
11.773.685 đồng; lãi quá hạn: 109.019.506 đồng, lãi chậm trả: 10.174.508 đồng; Tổng cộng: 1.355.233.058 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HDTD1032020284 ngày 15/12/2020 và Hợp đồng tín dụng số HDTD1032021319 ngày 17/11/2021; Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/02/2021 và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký trên dư nợ gốc thực tế. Trong trường hợp bà Mai A2 không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ bà Mai A2 vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi khoản nợ được tất toán.
+ Về án phí bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn thiếu theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Bị đơn là bà Nguyễn Mai A cư trú tại Thôn H, xã K, huyện Đ, Hà Nội. Do đó đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng nên theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hợp đồng tín dụng: Theo các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp và thu thập trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Nguyên đơn và Bị đơn đều thừa nhận là giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký các hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
- - Hợp đồng tín dụng số HDTD1032020284 ngày 15/12/2020 với nội dung: Số tiền cho vay: 1.200.000.000 VND (Một tỷ hai trăm triệu đồng chẵn./.) ; Mục đích vay: Hoàn vốn tiền mua đất; Thời hạn vay: từ 07/08/2018 đến hết ngày 06/08/2021. Lãi suất cho vay, phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: được quy định cụ thể trong Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ. Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- - Hợp đồng tín dụng số HDTD1032021319 ngày 17/11/2021 với nội dung: Hạn mức: 50.000.000 VND (Năm mươi triệu đồng chẵn./.) ; Mục đích vay: Phục vụ mục đích tiêu dùng và các mục đích khác hợp pháp của bên vay và gia đình Bên vay phù hợp với quy định của Pháp luật và Ngân hàng. Thời hạn cấp Hạn mức thấu chi: 12 tháng (từ ngày 17/11/2021 đến ngày 16/11/2022); Lãi suất: 11.7%/năm. Lãi suất cho vay, phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: được quy định cụ thể
trong Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ. Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Sau khi ký hợp đồng tín dụng trên cùng ngày Lễ đã giải ngân số tiền vay cho bà Mai A2 thông qua Khế ước nhận nợ ngày 18/6/2021 mà bà Mai A2 đã ký với Ngân hàng
- Ngày 28/02/2021, bà Nguyễn Mai A có vay của Ngân hàng TMCP B số tiền 100.000.000 đồng theo Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế
Xét, căn cứ vào khế ước nhận nợ, đơn đề nghị giải ngân của bà Mai A2 thể hiện số tiền vay theo hợp đồng trên đã được giải ngân theo yêu cầu của bà Mai A2. Bà Mai A2 cũng thừa nhận Ngân hàng đã giải ngân tiền vay cho bà Mai A2. Vì vậy, Hợp đồng này khi ký kết các bên đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự và không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên các bên có quyền, nghĩa vụ phải thực hiện.
Khoản vay theo các hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 14/8/2023, bà Mai A2 còn nợ ngân hàng Nợ gốc: 1.224..265.359 đồng; Nợ lãi trong hạn: 11.773.685 đồng; lãi quá hạn: 109.019.506 đồng, lãi chậm trả: 10.174.508 đồng; Tổng cộng: 1.355.233.058 (có bảng kê tính lãi kèm theo hồ sơ). Việc tính lãi trong hạn và quá hạn, lãi phạt của nguyên đơn không vi phạm quy định pháp luật về tính lãi nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để tính lại và yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và được chấp nhận.
Như vây, cần buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nguyên đơn tổng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 14/8/2023, bà Mai A2 còn nợ ngân hàng Nợ gốc: 1.224..265.359 đồng; Nợ lãi trong hạn: 11.773.685 đồng; lãi quá hạn: 109.019.506 đồng, lãi chậm trả: 10.174.508 đồng; Tổng cộng: 1.355.233.058 đồng. Kể từ ngày 15/8/2023, bị đơn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc của Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký trên dư nợ gốc thực tế.
[3.2] Về tài sản bảo đảm: Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ của nguyên đơn nhận thấy: Để đảm bảo cho khoản vay tín dụng của bị đơn đã ký hợp đồng thế chấp gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 56, địa chỉ: thôn Đ, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 192005, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐA 48484 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 19/10/2020 mang tên bà Nguyễn Mai A. Tài sản bảo đảm đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Đ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC103202090 do Văn phòng C chứng nhận ngày 11/12/2020. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản bảo đảm cho khoản vay. Việc này các bên đều thừa nhận.
Ngày 03/7/2023, Toà án có tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thể
hiện trên đất thế chấp có nhà 01 tầng xây dựng năm 2001, khung thép mái tôn xây dựng năm 2019, sân gạch đỏ trước nhà xây dựng năm 2011, tường gạch xây dựng năm 2011, khu nôi gà xây dựng năm 2019, trụ cổng, cánh cổng xây dựng năm 2019; 01 cây cau, 01 cây xoài. Hiện nay trên đất có bà T4, anh Ngọc A1 và các con còn nhỏ của anh Ngọc A1 đang ăn ở và sinh sống trên đất thế chấp. Ngoài ra không có ai khác.
Đối với yêu cầu của bà T4, anh Ngọc A1 cho rằng giữa bà T4, anh Ngọc A1 với chị Mai A2 chỉ có quan hệ vay nợ chứ không có việc chuyển nhượng. Nhưng các bên không có yêu cầu Toà án giải quyết về việc vay nợ và chuyển nhượng đất. Hơn nữa khi ký hợp đồng chuyển nhượng bà T4, anh Ngọc A1 biết và nhờ chị Mai A2 ký vay lại Ngân hàng để trang trải công nợ giúp anh Ngọc A1, bà T4. Các bên không yêu cầu Toà án giải quyế, không có yêu cầu độc lập nên Toà án không xem xét giải quyết mà được giải quyết bằng một vụ án khi các bên có tranh chấp.
Xét thấy: Các chủ thể ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung. Do đó, yêu cầu của ngân hàng về việc trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ, được chấp nhận.
Theo kết quả xem xét thẩm định thì diện tích đất thực tế đo nhiều hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Theo xác minh tại địa phương thì diện tích đất thực tế của thửa đất số 20, tờ bản đồ số 56 tại thôn Đ, xã D, huyện Đ, Hà Nội niều hơn so với sổ đỏ do thửa đất trên giáp phần đất tập thể nên có thừa ra ở phía Đông. Do đó, đề nghị Toà án chỉ xử lý thửa đất trên theo Giấy CNQSD đất đã cấp cho các bên. Còn phần thừa ra địa phương sẽ giải quyết sau. Nguyên đơn chỉ yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các bên. Như vậy, trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý diện tích đất thế chấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Mai A2 để thu hồi nợ.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và có cơ sở.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào ngân sách Nhà nước. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Các Điều: 117, 119, 327, 465, 466, 468 của Bộ luật Dân sự;
- - Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 157, 158, Điều 271, 273, 277 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 ngày 29/12/2006.
- - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B đối với bà Nguyễn Mai A về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản bảo đảm.
- Buộc bà Nguyễn Mai A phải có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng TMCP B các khoản tiền tính đến ngày 14/8/2023, bà Mai A2 còn nợ ngân hàng Nợ gốc: 1.224..265.359 đồng; Nợ lãi trong hạn: 11.773.685 đồng; lãi quá hạn: 109.019.506 đồng, lãi chậm trả: 10.174.508 đồng; Tổng cộng: 1.355.233.058 đồng.
- Kể từ ngày 15/8/2023, bị đơn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng số HDTD1032020284 ngày 15/12/2020 và Hợp đồng tín dụng số HDTD1032021319 ngày 17/11/2021; Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/02/2021 đã ký cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký trên dư nợ gốc thực tế.
- Về tài sản bảo đảm: Trường hợp bà Mai A2 không thanh toán được khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 56, địa chỉ: thôn Đ, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 192005, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐA 48484 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 19/10/2020 mang tên bà Nguyễn Mai A. Tài sản bảo đảm đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Đ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC103202090 do Văn phòng C chứng nhận ngày 11/12/2020. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản bảo đảm cho khoản vay.
- Đối với yêu cầu của bà T4, anh Ngọc A1 cho rằng giữa bà T4, anh Ngọc Al với chị Mai A2 chỉ có quan hệ vay nợ chứ không có việc chuyển nhượng. Nhưng các bên không có yêu cầu Toà án giải quyết về việc vay nợ và chuyển nhượng đất. Hơn nữa khi ký hợp đồng chuyển nhượng bà T4, anh Ngọc A1 biết và nhờ chị Mai A2 ký vay lại Ngân hàng để trang trải công nợ giúp anh Ngọc A1, bà T4. Các bên không yêu cầu Toà án giải quyế, không có yêu cầu độc lập nên Toà án không xem xét giải quyết mà được giải quyết bằng một vụ án khi các bên có tranh chấp.
- Về án phí DS sơ thẩm:
- Về án phí DS sơ thẩm:
- 6.1. Bà Mai A2 phải chịu toàn bộ tiền án phí là 52.565.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- 6.2. Ngân hàng TMCP B được nhận lại 23.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0006813 ngày 22/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
- Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thịnh Quang Thắng |
Bản án số 184/2023/DS- ST ngày 14/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản bảo đảm
- Số bản án: 184/2023/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và Xử lý tài sản bảo đảm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu bà Mai A phải trả Tính đến ngày 14/8/2023, bà Mai Anh còn nợ ngân hàng Nợ gốc: 1.224..265.359 đồng; Nợ lãi trong hạn: 11.773.685 đồng; lãi quá hạn: 109.019.506 đồng, lãi chậm trả: 10.174.508 đồng; Tổng cộng: 1.355.233.058 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HDTD1032020284 ngày 15/12/2020 và Hợp đồng tín dụng số HDTD1032021319 ngày 17/11/2021; Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/02/2021. Nay ngân hàng yêu cầu bà Mai Anh phải trả nợ ngay cho Ngân hàng số tiền vay trên và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký trên dư nợ gốc thực tế. Trong trường hợp bà Mai Anh không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ bà Mai Anh vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi khoản nợ được tất toán.
