TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 184/2024/HSST Ngày 12/07/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Lý.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thông.
- Ông Phùng Văn Tầu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 161/2024/HSST ngày 31 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:
TRẦN THỊ H, sinh năm 1995, tại Hà Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Vũ Thị T1; có chồng là Trần Văn C (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2019; theo danh chỉ bản số [...] ngày 26/04/2024 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội bị cáo không có tiền sự; Tiền án: 02 tiền án.
+ Tại bản án số 199/2020/HSST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Tại bản án số 250/2021/HSST ngày 22/10/2021 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với 12 tháng tù của bản án số 199/2020/HSST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội buộc H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 36 tháng tù. Đã chấp hành xong án phạt tù ngày 12/10/2023.
- Nhân thân:
+ Tại bản án số 09/2015/HSST ngày 06/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích.
Ra đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/04/2024 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H); Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Chị Nguyễn Minh T2, sinh năm 2003.
Nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Hiện trú tại: P, Nhà A, ký túc xá Đại học N, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
- Chị Trần Thị Hải Y, sinh năm 2024.
Nơi ĐKHKTT: thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam.
Hiện trú tại: P, nhà D, K Hà Nội, phường T, quận N, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
- Anh Ngô Gia S, sinh năm 2004.
Nơi ĐKHKTT: thôn T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Hiện trú tại: P, ký túc xá trường Đại học C1, tổ dân phố N, phường M, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 2004.
Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Hiện trú tại: Phòng A, ký túc xá trường Đại học T4, số G Hồ T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
- Chị Phùng Thị H1, sinh năm 2004.
Nơi ĐKHKTT: xóm Đ, thôn A, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định.
Hiện trú tại: Phòng A, ký túc xá trường Đại học T4, số G Hồ T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
- Chị Phạm Quỳnh A, sinh năm 2005.
Nơi ĐKHKTT: tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện trú tại: P, ký túc xá trường Đại học N1, phương L, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
- Chị An Mai H2, sinh năm 2004.
Nơi ĐKHKTT: T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Hiện trú tại: P, nhà A2, ký túc xá Trường H4, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
- Chị Long Phương T3, sinh năm 2005.
Nơi ĐKHKTT: xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
Hiện trú tại: P, Toà C4, Ký túc xá trường Học viện N2, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Có mặt).
- Chị Nguyễn Tuyết M, sinh năm 1995.
Nơi ĐKHKTT: thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
Hiện trú tại: P, nhà B, Ký túc xá Trường H5, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đoàn Mạnh Đ, sinh năm 1990.
Nơi ĐKHKTT: xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
Hiện trú tại: số A phố L, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2024 đến ngày 19/2/2024, Trần Thị H3 đã 08 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể từng lần như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 01/4/2024, H3 bắt xe khách đi từ nhà đến ký túc xá Trường Đại học C1, phường D, quận C, thành phố Hà Nội thì phát hiện phòng 310, nhà A không có người trong phòng nên H3 lén lút đi vào phòng lấy trộm được 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude 3520 màu đen, RAM 8G, core i3, 15.6 inch và 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer A315 màu xám, RAM 8G, core i3, 15.6 inch của chị Nguyễn Minh T2. Sau khi lấy trộm được tài sản, H3 đem bán cho một người không quen biết được số tiền là 4.000.000 đồng và sử dụng số tiền trên trang trải cuộc sống, chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 01/4/2024, chị Nguyễn Minh T2 đã có đơn trình báo đến Công an phường D, quận C sự việc mất trộm tài sản nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 162/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C, kết luận: Tổng giá trị tài sản của 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude 3520 màu đen, RAM 8G, core i3, 15.6 inch và 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer A315 màu xám, RAM 8G, core i3, 15.6 inch là 17.540.000 đồng.
Ngày 09/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận C có công văn đề nghị chuyển vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an quận H để giải quyết. Ngày 10/5/2024, VKSND quận Cầu Giấy đã ra Quyết định chuyển vụ án số 06.
Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02/4/2024, H3 đến ký túc xá Trường Đại học C1, phường T, quận N, thành phố Hà Nội thì phát hiện phòng 202, nhà D có người trong phòng, lợi dụng lúc mọi người không để ý, H3 đã lén lút đi vào phòng lấy trộm được 01 (một) ba lô bằng vải màu đen, bên trong chứa 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo IdeaPad Slim 5 màu xám, số seri SPF3J8K9M, 15.6 inch, chip core i5, RAM 8G, ROM 512GB của chị Trần Thị Hải Y. Sau khi lấy trộm được tài sản, H3 đem bán cho một người không quen biết được số tiền là 3.500.000 đồng. H3 sử dụng số tiền trên trang trải cuộc sống, chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 21/4/2024, chị Trần Thị Hải Y đã có đơn trình báo đến Công an phường M, quận H sự việc mất trộm tài sản nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo IdeaPad Slim 5 màu xám, số seri SPF3J8K9M, 15.6 inch, chip core i5, RAM 8G, ROM 512GB, đã qua sử dụng (không thu được vật chứng) là 10.080.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 10/4/2024, H3 đến ký túc xá Trường Đại học C1, phường M, quận B, thành phố Hà Nội thì phát hiện phòng 505 có người đang ngủ trong phòng nên H3 lén lút đi vào lấy trộm được 01 (một) ba lô màu nâu và 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Nitro 5 màu đen, 15.6 inch, chip core i5, RAM 16GB, ROM SSD 512GB của anh Ngô Gia S. Sau đó, H3 cầm số tài sản trên nhanh chóng đi ra khỏi trường để mang máy tính xách tay đi bán. Trên đường đi tìm chỗ bán, H3 đã vứt lại chiếc ba lô, còn chiếc máy tính xách tay thì H3 bán cho một người không quen biết được số tiền là 1.700.000 đồng, H3 sử dụng số tiền trên chi tiêu cá nhân hết
Ngoài ra, anh Ngô Gia S trình bày trong ba lô, ngoài máy tính xách tay, anh S còn để số tiền 2.000.000 đồng kẹp trong quyển vở. Quá trình đấu tranh, H3 khai nhận chỉ lấy máy tính trong ba lô sau đó vứt ba lô đi, không biết bên trong còn tài sản nào khác không.
Ngày 21/4/2024, anh Ngô Gia S đã có đơn trình báo đến Công an phường M, quận H sự việc mất trộm tài sản nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H kết luận: Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Nitro 5 màu đen, 15.6 inch, chip core i5, RAM 16GB, ROM SSD 512GB, đã qua sử dụng (không thu được vật chứng) là 17.493.000 đồng.
Lần thứ tư: Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 13/4/2024, H3 đến ký túc xá Trường Đại học T4, phường M, quận C, thành phố Hà Nội thì phát hiện phòng 112B có người đang ngủ trong phòng nên H3 lén lút đi vào phòng lấy trộm được 01 (một) ba lô vải màu xanh và 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Aspire 7 màu đen, 15.6 inch, chip core i5, RAM 8GB, ROM 256GB, card GTX1650 4GB của chị Nguyễn Thị Q và 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion màu bạc, số seri: 5CD225007M, 14 inch, chip core i5, RAM 8GB, ROM 256GB của chị Phùng Thị H1. Sau khi lấy trộm được tài sản, H3 đem bán cho một người không quen biết được số tiền là 4.400.000 đồng, H3 sử dụng số tiền trên chi tiêu cá nhân hết.
Cùng ngày 21/4/2024, chị Nguyễn Thị Q và chị Phùng Thị H1 đã có đơn trình báo đến Công an phường M, quận H sự việc mất trộm tài sản nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Aspire 7 màu đen, 15.6 inch, chip core i5, RAM 8GB, ROM 256GB, card GTX1650 4GB (không thu được vật chứng) là 10.143.000 đồng; giá trị tài sản của 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion màu bạc, số seri: 5CD225007M, 14 inch, chip core i5, RAM 8GB, ROM 256GB, đã qua sử dụng (không thu được vật chứng) là 11.642.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 02 (hai) máy tính xách tay là 21.785.000 đồng.
Lần thứ năm: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 17/4/2024, H3 đến ký túc xá Trường N1, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội thì phát hiện phòng 207 có người đang ngủ trong phòng nên H3 lén lút đi vào phòng lấy trộm được 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay bằng vải màu trắng, không nhãn hiệu bên trong chứa 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion màu bạc, số seri 5CD0219DJ2, 14 inch, chip core i3, RAM 4GB, ROM SSD 512GB của chị Phạm Quỳnh A. Sau đó, H3 cầm số tài sản trên nhanh chóng đi ra khỏi trường để mang máy tính xách tay đi bán. Trên đường đi tìm chỗ bán, H3 đã vứt lại chiếc ba lô, còn chiếc máy tính xách tay thì H3 đem bán cho một người không quen biết được số tiền là 1.800.000 đồng, H3 sử dụng số tiền trên chi tiêu cá nhân hết.
Ngoài ra, chị Phạm Quỳnh A trình bày trong ba lô, ngoài máy tính xách tay còn có 01 (một) máy ghi âm nhãn hiệu Sony ICD-TX660, 16GB để trong túi đựng bút, tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra, H3 khai nhận chỉ lấy máy tính trong ba lô sau đó vứt ba lô đi nên không biết bên trong còn tài sản nào khác.
Ngày 21/4/2024, chị Phạm Quỳnh A đã có đơn trình báo đến Công an phường M, quận H sự việc mất trộm tài sản nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận:
- Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion màu bạc, số seri 5CD0219DJ2, 14 inch, chip core i3, RAM 4GB, ROM SSD 512GB, đã qua sử dụng là 4.444.000 đồng.
- 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay bằng vải màu trắng, không nhãn hiệu (không thu được vật chứng): Không xác định được giá trị.
- Giá trị 01 (một) máy ghi âm nhãn hiệu Sony ICD-TX660, 16GB, đã qua sử dụng (không thu được vật chứng) là 2.560.000 đồng.
Lần thứ sáu: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 18/4/2024, H3 đến ký túc xá Trường H4, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội thì phát hiện phòng 1007, nhà A2 có người đang ngủ trong phòng nên H3 lén lút đi vào phòng lấy trộm được 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 15N 3520 màu đen của chị An Mai H2. Sau khi lấy trộm được tài sản, H3 đem bán cho một người không quen biết được số tiền là 2.500.000 đồng, H3 sử dụng số tiền trên chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 03/5/2024, chị An Mai H2 đã có đơn trình báo đến Công an quận H sự việc mất trộm tài sản nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 15N 3520 màu đen (tài sản đã qua sử dụng, chưa thu hồi được vật chứng) là 14.891.000 đồng.
Lần thứ bảy: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 18/4/2024, H3 đến ký túc xá Trường N2, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội thì phát hiện phòng 303, nhà C4 không có người ở trong phòng nên H3 lén lút đi vào phòng tìm lấy được 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion X360 màu bạc, 14 inch, chip core i5, RAM 8GB, ROM SSD 512GB, card Intel Iris XE Graphics của chị Long Phương T3. Sau khi lấy trộm được tài sản, H3 đem bán cho một người không quen biết được số tiền là 4.500.000 đồng, H3 sử dụng số tiền trên chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 21/4/2024, chị Long Phương T3 đã có đơn trình báo đến Công an phường M, quận H sự việc mất trộm tài sản nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận H, kết luận: Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion X360 màu bạc, 14 inch, chip core i5, RAM 8GB, ROM SSD 512GB, card Intel Iris XE Graphics, đã qua sử dụng (không thu được vật chứng) là 13.440.000 đồng.
Lần thứ tám: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/4/2024, H3 đến ký túc xá Trường H5, phường M, quận H, thành phố Hà Nội thì phát hiện phòng 515, nhà B5 có người đang ngủ trong phòng nên H3 lén lút đi vào lấy trộm được 01 (một) cặp đựng máy tính xách tay bằng vải màu xanh, không nhãn hiệu, kích thước (28x40)cm; bên trong chứa 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Vivobook màu ghi xám, model: M1503QA, chip AMD Ryzen 7, RAM 16GB, ROM 512GB, card R (TM) Graphics của chị Nguyễn Tuyết M. Sau đó, H3 cầm số tài sản trên nhanh chóng đi ra khỏi trường rồi bắt xe ôm đến cửa hàng mua bán máy tính của anh Đoàn Mạnh Đ ở địa chỉ số A L, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội và bán cho anh Đ được số tiền là 4.500.000 đồng.
Ngày 20/4/2024, chị Nguyễn Tuyết M đã có đơn trình báo đến Công an phường M, quận H sự việc mất trộm tài sản nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: Giá trị tài sản 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Vivobook màu ghi xám, model: M1503QA, chip AMD Ryzen 7, RAM 16GB, ROM 512GB, card R (TM) Graphics, đã qua sử dụng (đã thu được vật chứng) và 01 (một) cặp đựng máy tính xách tay bằng vải màu xanh, không nhãn hiệu, kích thước (28x40)cm (đã thu được vật chứng) là 11.885.000 đồng.
Ngày 21/4/2024, Trần Thị H3 đã đến Công an phường M, quận H để đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình nêu trên.
Sau khi phát hiện tội phạm, ngày 04/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H đã có công văn trao đổi với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an các quận C, N, Bắc Từ L và Đống Đ1 về quan điểm giải quyết đối với hành vi trộm cắp tài sản của Trần Thị H3 tại địa bàn các quận trên. Để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị can đồng thời Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H là nơi phát hiên tội phạm do đó các Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận C, N, Bắc Từ L và Đống Đ1 đều đề nghị cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự
Vật chứng của vụ án đã thu giữ được gồm:
- Thu giữ do Trần Thị H3 tự nguyện giao nộp: số tiền 4.500.000 đồng tiền Ngân hàng N3 đang lưu hành.
Thu giữ do anh Đoàn Mạnh Đ tự nguyện giao nộp: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Vivobook màu ghi xám, model: M1503QA, chip AMD Ryzen 7, RAM 16GB, ROM 512GB, card R (TM) Graphics, đã qua sử dụng (đã thu được vật chứng) và 01 (một) cặp đựng máy tính xách tay bằng vải màu xanh, không nhãn hiệu, kích thước (28x40)cm.
Vật chứng chưa thu giữ được của vụ án, gồm:
- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude 3520 màu đen, RAM 8G, core i3, 15.6 inch; 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer A315 màu xám, RAM 8G, core i3, 15.6 inch (tài sản của chị Nguyễn Minh T2);
- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo IdeaPad Slim 5 màu xám, số seri SPF3J8K9M, 15.6 inch, chip core i5, RAM 8G, ROM 512GB (tài sản của chị Trần Thị Hải Y);
- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Nitro 5 màu đen, 15.6 inch, chip core i5, RAM 16GB, ROM SSD 512GB và số tiền 2.000.000 đồng (tài sản của anh Ngô Gia S);
- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Aspire 7 màu đen, 15.6 inch, chip core i5, RAM 8GB, ROM 256GB, card GTX1650 4GB (tài sản của chị Nguyễn Thị Q);
- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion màu bạc, số seri: 5CD225007M, 14 inch, chip core i5, RAM 8GB, ROM 256GB (tài sản của Phùng Thị H1);
- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion màu bạc, số seri 5CD0219DJ2, 14 inch, chip core i3, RAM 4GB, ROM SSD 512GB; 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay bằng vải màu trắng;
- 01 (một) máy ghi âm nhãn hiệu Sony ICD-TX660, 16GB (tài sản của chị Phạm Quỳnh A);
- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 15N 3520 màu đen (tài sản của chị An Mai H2); 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion X360 màu bạc, 14 inch, chip core i5, RAM 8GB, ROM SSD 512GB, card I (tài sản của chị Long Phương T3).
Tại bản Cáo trạng số 155/CT-VKS-HĐ ngày 30 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần Thị H3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thị H3 về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Trần Thị Hiền từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự:
Chị Nguyễn Tuyết M và anh Đoàn Mạnh Đ đã nhận tài sản, không có yêu cầu gì nên không xét trong vụ án này.
Buộc bị cáo Trần Thị H3 phải bồi thường cho người bị hại cụ thể:
Chị Nguyễn Minh T2 số tiền: 17.540.000 đồng.
Chị Trần Thị Hải Y số tiền: 10.080.000 đồng.
Anh Ngô Gia S số tiền: 17.493.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị Q số tiền: 10.143.000 đồng.
Chị Phùng Thị Hồng s tiền: 11.642.000 đồng.
Chị Phạm Quỳnh A số tiền: 4.444.000 đồng.
Chị An Mai H2 số tiền: 14.891.000 đồng.
Chị Long Phương T3 số tiền: 13.440.000 đồng.
Còn đối với số tài sản gồm: số tiền 2.000.000 đồng của anh Ngô Gia S và 01 (một) máy ghi âm nhãn hiệu Sony ICD-TX660, 16GB của chị Phạm Quỳnh A trình bày bị mất trộm cùng với máy tính xách tay được để bên trong ba lô: Quá trình đấu tranh, bị cáo H3 trình bày không biết trong ba lô có những tài sản này, không kiểm tra bên trong ba lô trước khi vứt. Ngoài lời khai của anh S và chị Quỳnh A thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên chưa đủ căn cứ kết luận bị cáo H3 đã chiếm đoạt số tài sản nêu trên, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1]. Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H3 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của người bị hại, bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2024 đến ngày 19/4/2024 trên địa bàn các quận C, N, Bắc Từ L, Đ và quận H, thành phố Hà Nội lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của các chủ sở hữu Trần Thị H3 đã 08 lần lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Tổng trị giá tài sản H3 chiếm đoạt có giá trị là 111.558.000 đồng. Do Trần Thị H3 là người không có việc làm, trong khoảng thời gian ngắn H3 đã 08 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với tổng giá trị là 111.558.000 đồng và lấy đó nguồn sống chính cho bản thân là thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” và “Có tính chất chuyên nghiệp”; nhân thân bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá, nên lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Nên hành vi của Trần Thị H3 đã phạm vào tội: Trộm cắp tài sản, thuộc trường hợp “Có tính chất chuyên nghiệp”, “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” và “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội gây ảnh hưởng xấu trong nhân dân.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình thực hiện hành vi phạm tội H3 đã 08 lần có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là thuộc trường hợp “phạm tôi 02 lần trở lên”. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo H3.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi vụ án bị phát hiện bị cáo đã ra cơ quan điều tra để đầu thú, khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy về nhân thân bị cáo có 03 tiền án, điều đó cũng cho thấy mặc dù bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục song bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, mà ngày càng lao sâu vào con đường tái phạm tội cùng loại. Với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội 1 thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015. Song do bị cáo không có việc làm ổn định và không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H3.
[8]. Về các vấn đề khác:
Đối với anh Đoàn Mạnh Đ là người mua máy tính xách tay của Trần Thị H3. Quá trình điều tra đã làm rõ được khi mua máy tính qua kiểm tra thì máy tính không có mật khẩu, H3 trình bày là máy tính của H3. Về mặt chủ quan, anh Đ không biết tài sản trên là tài sản do H3 phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không khởi tố đối với Đoàn Mạnh Đ về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật hình sự là có có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với số tài sản gồm: số tiền 2.000.000 đồng của anh Ngô Gia S và 01 (một) máy ghi âm nhãn hiệu Sony ICD-TX660, 16GB của chị Phạm Quỳnh A trình bày bị mất trộm cùng với máy tính xách tay được để bên trong ba lô: Quá trình đấu tranh, bị cáo H3 trình bày không biết trong ba lô có những tài sản này, không kiểm tra bên trong ba lô trước khi vứt. Ngoài lời khai của anh S và chị Quỳnh A thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên chưa đủ căn cứ kết luận bị cáo H3 đã chiếm đoạt số tài sản nêu trên, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại tài sản đã thu giữ cho các chủ sở hữu, cụ thể:
Trả chị Nguyễn Tuyết M: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Vivobook màu ghi xám, model: M1503QA, chip AMD Ryzen 7, RAM 16GB, ROM 512GB, card R (TM) Graphics, đã qua sử dụng và 01 (một) cặp đựng máy tính xách tay bằng vải màu xanh, không nhãn hiệu, kích thước (28x40)cm, là vật chứng ngày 19/04/2024. Chị M đã nhận tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì nên không xét trong vụ án này.
Trả anh Đoàn Mạnh Đ số tiền 4.500.000 đồng. Anh Đ đã nhận tài sản không có yêu cầu gì nên không xét trong vụ án này.
Còn các tài sản khác do không thu hồi được, người bị hại yêu cầu được bồi thường là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó cần buộc bị cáo Trần Thị H3 bồi thường trả lại cho người bị hại cụ thể như sau:
- Chị Nguyễn Minh T2 số tiền: 17.540.000 đồng.
- Chị Trần Thị Hải Y số tiền: 10.080.000 đồng.
- Anh Ngô Gia S số tiền: 17.493.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Q số tiền: 10.143.000 đồng.
- Chị Phùng Thị Hồng s tiền: 11.642.000 đồng.
- Chị Phạm Quỳnh A số tiền: 4.444.000 đồng.
- Chị An Mai H2 số tiền: 14.891.000 đồng.
- Chị Long Phương T3 số tiền: 13.440.000 đồng.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị H3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Trần Thị H3 54 (Năm mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/04/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Trần Thị H3 phải bồi thường trả:
- - Chị Nguyễn Minh T2 số tiền: 17.540.000 đồng.
- - Chị Trần Thị Hải Y số tiền: 10.080.000 đồng.
- - Anh Ngô Gia S số tiền: 17.493.000 đồng.
- - Chị Nguyễn Thị Q số tiền: 10.143.000 đồng.
- - Chị Phùng Thị Hồng số tiền: 11.642.000 đồng.
- - Chị Phạm Quỳnh A số tiền: 4.444.000 đồng.
- - Chị An Mai H2 số tiền: 14.891.000 đồng.
- - Chị Long Phương T3 số tiền: 13.440.000 đồng.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất cơ bản do Ngân hàng N3 quy định tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6, 8 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
4. Áp dụng khoản 2 Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).
* Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Thị H3 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; 4.980.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại chị Long Phương T3 có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại chị Nguyễn Minh T2, chị Trần Thị Hải Y, anh Ngô Gia S, chị Nguyễn Thị Q, chị Phùng Thị H1, chị Phạm Quỳnh A, chị An Mai H2, chị Nguyễn Thị M1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Mạnh Đ vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Thị Hồng Lý |
Bản án số 184/2024/HSST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 184/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H
