TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 184/2024/HS-ST Ngày 06-8-2024. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Thanh Nhàn;
Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 185/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST–HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoài P, sinh năm 1990, tại tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ tạm trú: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; quốc tịch: Việt Nam; số CCCD: [...]; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/5/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2016/HSST ngày 31/5/2016, chấp hành xong án phạt tù ngày 26/9/2016, chấp hành nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 07/02/2017. Ngày 30/6/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2017/HSST ngày 30/6/2017, chấp hành xong án phạt tù ngày 17/11/2017, chấp hành nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 24/8/2022; ngày 07/5/2024, bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Bà Bùi Thị C, sinh năm 1985; thường trú tại: Số B, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn Â, sinh năm 1965; thường trú tại: Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Mai T2, sinh năm 1999; thường trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2017, Nguyễn Hoài P đến ở trọ tại phòng trọ số I nhà T, thuộc khu phố B, phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương đi làm công nhân.
Khoảng 10 giờ, ngày 04/5/2024, Nguyễn Hoài P điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số: 61G1 – 400.25 đi đến khu vực phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương nộp hồ sơ vào công ty xin việc làm. Sau đó, P điều khiển xe đến quán C1 thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương do bà Bùi Thị C làm chủ, để uống cà phê. Khi vào quán, P gọi kêu bán nước nhưng không nghe ai trả lời. Lúc này, P thấy trên tủ ở quầy pha chế có 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen gắn sim số 0388487769 của bà C thì nảy sinh ý định lấy trộm đem bán lấy tiền tiêu xài nên lén lút đi lại lấy điện thoại bỏ vào túi đeo chéo đang đeo trên người P rồi đi ra điều khiển xe chạy về. Trên đường về, P tháo sim số 0388487769 cất giấu vào trong bóp rồi mở ốp điện thoại kiểm tra thì thấy có 02 (hai) tờ giấy biên nhận cầm cố vàng của bà C tại Tiệm V thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Văn  làm chủ. Lúc này, P nảy sinh ý định sử dụng 02 (hai) tờ giấy biên nhận cầm đồ đem đến Tiệm V để chiếm đoạt tiền. Đến khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, P điều khiển xe môtô biển số: 61G1 – 400.25 đến Tiệm V đưa 02 (hai) tờ giấy biên nhận cầm đồ của bà C cho ông Nguyễn Văn Â, nói dối mình là chồng bà C, yêu cầu bán toàn bộ số vàng đã cầm cố. Ông  tin tưởng nên đồng ý mua. Sau khi tính toán trừ số tiền cầm cố và tiền lãi, ông  đưa cho P số tiền 5.400.000 đồng (năm triệu bốn trăm nghìn đồng). Sau đó, P đi về phòng trọ số 09 nhà trọ Dư Thị H nhờ bạn tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) lên mạng bán chiếc điện thoại trộm cắp được của bà C cho người không rõ lai lịch được số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng). Tiền bán điện thoại có được, P tiêu xài hết.
Đối với bà Bùi Thị C, sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại và giấy biên nhận cầm đồ, bà C đã đến Tiệm vàng Kim Â1 báo cho ông Nguyễn Văn  biết sự việc. Sau đó, bà C và ông A đến Công an phường A trình báo vụ việc bị chiếm đoạt tài sản. Lực lượng Công an phường A mời Nguyễn Hoài P làm việc thì P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thanh phố B giải quyết theo thẩm quyền.
3
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số: 61G1 – 400.25, số máy: 1FC3002310, số khung: RLCS1FC30EY002296; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe số 038565 của xe môtô biển số: 61G1 – 400.25 mang tên Đào Văn T4; 01 (một) sim điện thoại số 0388.487.xxx; 01 (một) giấy biên nhận hợp đồng cầm đồ số 2852; 01 (một) giấy biên nhận hợp đồng cầm đồ số 2727; số tiền 5.400.000 đồng (năm triệu bốn trăm nghìn đồng).
Theo Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng, trị giá 5.900.000 đồng (năm triệu chín trăm nghìn đồng).
Đối với xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số: 61G1 – 400.25 do ông Đào Văn T4 (sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương) đứng tên đăng ký. Năm 2020, ông T4 đem xe này cho ông Đào Văn Đ (sinh năm 1994; hộ khẩu thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương). Sau đó, ông Đ bán xe cho ông Trần Anh K (sinh năm 1983; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang). Ngày 07/02/2023, ông K cầm cố xe cho T5 cầm đồ Nhật A tại địa chỉ: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương do ông Trần Văn N (sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) làm chủ tiệm. Ngày 21/5/2023, ông N bán xe cho Nguyễn Hoài P.
Ngày 30/5/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B giao trả: 01 (một) sim điện thoại số 0388.487.xxx; 01 (một) giấy biên nhận hợp đồng cầm đồ số 2852 và 01 (một) giấy biên nhận hợp đồng cầm đồ số 2727 cho bà Bùi Thị C; giao trả số tiền 5.400.000 đồng (năm triệu bốn trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Văn Â.
Ngày 19/6/2024, bà Nguyễn Thị Mai T2 là em ruột của bị cáo Nguyễn Hoài P đã bồi thường thiệt hại do không thu hồi được điện thoại di động cho bà Bùi Thị C số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Ông Nguyễn Văn  và bà Bùi Thị C đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Hoài P.
Tại Cơ quan Điều tra, Nguyễn Hoài P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 189/CT-VKS-BC ngày 16/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hoài P về tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 189/CT-VKSBC ngày 16/7/2024 đối với bị cáo Nguyễn Hoài P về tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều
4
173; khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P từ 08 tháng đến 10 tháng tù đối với tội: “Trộm cắp tài sản” và từ 08 tháng đến 10 tháng tù tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số: 61G1 – 400.25, số máy 1FC3002310, số khung RLCS1FC30EY002296 (xe không gương bên phải, không khóa, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe số 038565 của xe môtô biển số: 61G1 – 400.25.
Bị cáo Nguyễn Hoài P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, nội dung bản Cáo trạng số 189/CT-VKS-BC ngày 16/7/2024 và Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của thành phố B.
Tại phiên tòa, bị cáo P không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và phần luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hoài P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 04/5/2024, tại quán C1 thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương Nguyễn Hoài P đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen trị giá 5.900.000 đồng (năm triệu chín trăm nghìn đồng) và 02 (hai) giấy biên nhận cầm cố vàng của bà Bùi Thị C. Đến khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, tại tiệm V thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Văn  làm chủ, Nguyễn Hoài P đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối là sử dụng giấy biên nhận hợp đồng
5
cầm đồ trộm được, nói dối mình là chồng của bà Bùi Thị C để yêu cầu bán số vàng mà bà C đã cầm cố, chiếm đoạt số tiền 5.400.000 đồng (năm triệu bốn trăm nghìn đồng) của ông Nguyễn Văn Â. Số tiền chiếm đoạt có được bị cáo dùng để tiêu xài cá nhân.
Với hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác trị giá 5.900.000 đồng (năm triệu chín trăm nghìn đồng) và hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt số tiền 5.400.000 đồng (năm triệu bốn trăm nghìn đồng) của người khác của bị cáo Nguyễn Hoài P đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bản Cáo trạng số 189/CT-VKSBC ngày 16/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương.
Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân từ nguồn thu nhập hợp pháp nhưng vì tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền sử dụng cho mục đích cá nhân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội và có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng khung hình phạt nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại và các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
6
Đối với xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số: 61G1 – 400.25: Xe này do ông Đào Văn T4 (sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương) đứng tên đăng ký. Năm 2020, ông T4 tặng xe này cho ông Đào Văn Đ (sinh năm 1994; hộ khẩu thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương). Sau đó, ông Đ bán xe cho ông Trần Anh K (sinh năm 1983; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang) nhưng không làm thủ tục sang tên. Ngày 07/02/2023, ông K cầm cố xe cho T5 cầm đồ Nhật A tại địa chỉ: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương do ông Trần Văn N (sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) làm chủ tiệm. Ngày 21/5/2023, ông N bán xe cho Nguyễn Hoài P. Bị cáo sử dụng xe này để đi thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, đây là công cụ, phương tiện sử dụng phạm tội. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (một) sim điện thoại số 0388.487.xxx; 01 (một) giấy biên nhận hợp đồng cầm đồ số 2852 và 01 (một) giấy biên nhận hợp đồng cầm đồ số 2727 cho bà Bùi Thị C; giao trả số tiền 5.400.000 đồng (năm triệu bốn trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Văn Â: Ngày 30/5/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B giao trả các bị hại. Các bị hại đã nhận lại và không có yêu cầu gì thêm.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng của bà Bùi Thị C: Do không thu hồi được nên ngày 19/6/2024, bà Nguyễn Thị Mai T2 là em ruột của bị cáo Nguyễn Hoài P đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cho bà Bùi Thị C. Bà C đã nhận số tiền này và không có yêu cầu gì thêm. Bà T2 cũng không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này cho bà T2 nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P 08 (tám) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 08 (tám) tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tổng hợp hình phạt bị cáo Nguyễn Hoài P phải chấp hình phạt chung của hai tội là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
7
3.1 Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
3.2 Về xử lý vật chứng: Căn cứ theo Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số: 61G1 – 400.25, số máy 1FC3002310, số khung RLCS1FC30EY002296 (xe không gương bên phải, không khóa, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe số 038565 của xe môtô biển số: 61G1 – 400.25.
(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân thành phố Bến Cát)
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hoài P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Thanh Trúc |
Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 184/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
