|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 184/2025/HSST Ngày: 16-6-2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Ái Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thị Thanh Nga.
- Ông Nguyễn Bính .
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thuỳ Dương, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thịnh, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2025/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức M (Tên gọi khác: Bé B), Sinh năm: 1995 tại tỉnh Bình Thuận.
Nơi ĐKTT: khu phố Lương Trung, thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ ở: thôn Xuân Phong, xã Phong Nẫm, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức M1 và bà Huỳnh Thị S. Có 01 con.Tiền án:
Ngày 06/02/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 47/2024/HSST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/01/2025, chưa được xóa án tích.
Tiền sự:
Ngày 12/5/2023, bị Công an huyện B xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 14/QĐ-XPHC, đóng tiền vào ngày 04/11/2024, chưa được xóa tiền sự.
Nhân thân:
- Ngày 16/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định 07/2018/QĐ-TA, chấp hành xong vào ngày 26/5/2020.
- Ngày 05/02/2023, bị Công an huyện B xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 01/QĐ-XPHC, đóng tiền vào ngày 08/3/2024.
Bị cáo bị bắt trong trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp vào ngày 15/3/2025, hiện đang bị “Tạm giam” tại Phân Trại tạm giam khu vực P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 2004. Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố P (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Đức S1, sinh năm: 1998. Địa chỉ: Số A N, khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 20 phút ngày 13/3/2025, Nguyễn Đức M đi bộ dọc các tuyến đường thuộc phường P, thành phố P tìm kiếm tài sản trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi M đi ngang qua số nhà D đường L thuộc khu phố G, phường P, thành phố P thì phát hiện 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 86C1-405.23 của chị Nguyễn Thị Diễm H (sinh năm 2004, trú tại khu phố E, phường P, thành phố P) đang dựng trên vỉa hè, xe khóa cổ, xung quang không có người trông coi. Lúc này, M lén lút tiếp cận chiếc xe mô tô trên rồi dùng tua-vít (M mang theo sẵn) bẻ khóa cổ, nổ máy xe rồi điều khiển xe tẩu thoát. Sau khi trộm cắp được chiếc xe mô tô biển số 86C1-405.23, M đem về phòng trọ của M tại thôn X, xã P, thành phố P cất giấu. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, M tháo kính chiếu hậu bên trái và biển số 86C1-405.23 ra rồi gắn biển số 68V6-9517 cùng 01 kính chiếu hậu bên trái được uốn cong do M nhặt được trước đó vào xe mô tô vừa trộm cắp được. Biển số 86C1-405.23, M vứt vào thùng rác, riêng kính chiếu hậu bên trái của xe thì M cất giấu tại phòng trọ của M. Sau đó, M điều khiển chiếc xe mô tô có gắn biển số 68V6-9517 đến gặp anh Trần Đức S1 (sinh năm 1998, trú tại khu phố L, thị trấn T, huyện H) để bán. Tại đây, M nói với S1: “Chiếc xe mô tô trên của người nhà, không dùng nữa nên đem đi bán” thấy vậy, S1 tin tưởng đồng ý mua lại với giá 2.000.000 đồng. Sau khi bán được tài sản, M đã tiêu xài hết số tiền trên.
Đến khoảng 08 giờ 35 phút ngày 14/3/2025, sau khi phát hiện mất trộm tài sản, chị H đã đến Công an phường P trình báo sự việc. Qua xác minh, Công an phường P xác định Nguyễn Đức M là đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị H nên đã mời M về trụ sở để làm việc, tại đây M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên (Bút lục số 48, 53-60, 72-77, 105-106).
Đến ngày 24/3/2025, M đã tác động chị Lê Thị Thu N (sinh năm 1989, trú tại khu phố D, phường Đ, thành phố P) là vợ của M nộp lại số tiền 2.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại.
Vật chứng của vụ án:
Thu giữ từ anh Trần Đức S1:
- 01 chiếc xe mô tô hiệu Sirius, số khung: C6J0EY083554, số máy: 5C6J-083554, gắn biển số 68V6-9517;
- 01 kính chiếu hậu được uốn cong bên trái.
Thu giữ từ Nguyễn Đức M:
- 01 tua-vít, có chiều dài 13cm, phần cán nhựa màu đen dài 08cm, phần đầu kim loại màu trắng dài 05cm;
- 01 đôi dép xốp có viền màu xanh đen;
- 01 nón bảo hiểm màu đen;
- 01 áo khoác dài tay, có trùm đầu màu xám;
- 01 kính chiếu hậu bên trái, màu đỏ đen.
Thu giữ từ chị Nguyễn Thị Diễm H: 01 USB 4GB hiệu Toshiba màu trắng, bên trong có chứa dữ liệu là 02 đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Đức M trộm cắp tài sản của chị H.
Thu giữ từ chị Lê Thị Thu N: 2.000.000 đồng.
Đối với biển số xe 86C1-405.23, M khai đã bỏ vào túi đựng rác trong phòng vệ sinh, sau đó chị N (là vợ của M) đã ném túi rác ra ngoài đường để dọn vệ sinh, Công an phường P đã tiến hành tìm kiếm nhưng không thấy.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 20/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ - đen, số khung: C6J0EY083554, số máy: 5C6J-083554, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường trị giá 4.000.000 đồng
Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Diễm H yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức M bồi thường số tiền 2.000.000 đồng chi phí làm lại biển số mà M đã trộm cắp và làm mất của chị H.
Trần Đức S1 không yêu cầu Nguyễn Đức M trả lại số tiền 2.000.000 đồng mà Trần Đức S1 đã mua lại chiếc xe trên từ Nguyễn Đức M.
Về xử lý vật chứng:
Xe mô tô hiệu Sirius, số khung: C6J0EY083554, số máy: 5C6J-083554 và 01 kính chiếu hậu bên trái, màu đỏ đen của bị hại Nguyễn Thị Diễm H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P trả lại cho bị hại.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo M không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản nêu trên.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 107/CT – VKSPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Đức M đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo biết việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của người khác, bất chấp hậu quả.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M với mức hình phạt từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Bị hại Nguyễn Thị Diễm H yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức M bồi thường thiệt hại số tiền 2.000.000 đồng, gồm chi phí làm lại biển số của xe mô tô mà bị cáo đã trộm cắp, sau đó đã làm mất và chi phí gắn lại kính chiếu hậu của xe. Tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường 2.000.000 đồng cho bị hại nên buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên: Tịch thu tiêu huỷ 01 kính chiếu hậu được uốn cong bên trái thu giữ từ Trần Đức Sơn; 01 tua-vít, 01 đôi dép xốp có viền màu xanh đen, 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác dài tay, có trùm đầu màu xám thu giữ từ Nguyễn Đức M.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo đã tác động gia đình nộp để bồi thường cho bị hại, nay tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Nguyễn Đức M không trình bày lời bào chữa, không tranh luận gì với Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Đức M: sau khi phạm tội bị cáo rất ân hận về hành vi đã thực hiện mong Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, bị cáo hứa sẽ học tập rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra Công an thành phố P, cũng như lời khai của bị hại và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 20 phút ngày 13/3/2025, tại trước số nhà D đường L thuộc khu phố G, phường P, thành phố P, Nguyễn Đức M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô biển số 86C1-405.23 trị giá 4.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Diễm H.
Do đó hành vi của Nguyễn Đức M đã thực hiện như đã nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy:
Nguyễn Đức M vì động cơ tư lợi cá nhân đã cố ý thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, hành vi này không những đã xâm phạm đến quan hệ về quyền sở hữu hợp pháp của công dân mà còn gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo Nguyễn Đức M có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị cáo có 01 tiền sự và nhân thân xấu. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và cũng là để giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, xét thấy bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền để bồi thường cho bị hại; tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Bị hại Nguyễn Thị Diễm H yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 2.000.000 đồng, gồm chi phí làm lại biển số của xe mô tô mà bị cáo đã trộm cắp, sau đó đã làm mất và chi phí gắn lại kính chiếu hậu của xe. Tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 2.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại, nên buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius, số khung: C6J0EY083554, số máy: 5C6J-083554 là tài sản của bị hại Nguyễn Thị Diễm H. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho bị hại nên hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 kính chiếu hậu được uốn cong bên trái (thu giữ từ Trần Đức Sơn); 01 tua-vít, 01 đôi dép xốp có viền màu xanh đen, 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác dài tay, có trùm đầu màu xám (thu giữ từ Nguyễn Đức M) là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng. Do vậy, cần áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự quyết định tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo đã tác động gia đình nộp để bồi thường cho bị hại, nay tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6] Đối với Trần Đức S1 có hành vi mua xe mô tô trên từ bị cáo nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý S1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đồng thời S1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 2.000.000 đồng mà S1 đã mua lại xe mô tô nêu trên từ bị cáo nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức M 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2025.
Về bồi thường dân sự:
Áp dụng khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 và khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Đức M bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu) đồng cho bị hại Nguyễn Thị Diễm H.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên:
Tịch thu tiêu huỷ 01 kính chiếu hậu được uốn cong bên trái; 01 tua-vít, 01 đôi dép xốp có viền màu xanh đen, 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 áo khoác dài tay, có trùm đầu màu xám.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng ghi trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 172 ngày 21/5/2025 và giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1054627 ngày 21/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết tại kho bạc nhà nước tỉnh B.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết, tuyên buộc bị cáo Nguyễn Đức M phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/6/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Ái Quyên |
Bản án số 184/2025/HSST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm về tội "trộm cắp tài sản"
- Số bản án: 184/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Trộm cắp tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức M phạm tội Trộm cắp tài sản
