Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2025/HS-PT

Ngày: 11 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chương
  • Các Thẩm phán: Ông Trần Đức Hiếu
  • Ông Lê Quang Chiều
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lý Minh Chính - Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Lưu Mạnh Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 68/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2025/QĐXXPT-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Phùng Minh H do có kháng cáo của bị cáo Phùng Minh H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

Phùng Minh H; Sinh năm 1972; ĐKNKTT: Số B ngõ A T, Phường T, Quận T, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: 2 H, Phường N, Quận B, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Họ và tên bố: Phùng Minh T (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị L (đã chết); Họ và tên chồng: Tống Hoàng D; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 01 tiền sự năm 2004 về hành vi Gây rối trật tự công cộng; D1, chỉ bản số 237 lập ngày 07/6/2024 tại Công an Quận B. Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/5/2024, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn ngày 07/6/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra còn có 04 bị cáo và 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị. Toà án cấp phúc thẩm không triệu tập đến tham gia phiên toà phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 30/5/2024, Kiều Thị Phương D2 (sinh năm 1985; trú tại: P tòa N KĐT T, Phường N, Quận T, thành phố Hà Nội liên lạc rủ Phùng Minh H chơi chắn ăn tiền, H đồng ý. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H liên lạc qua điện thoại rủ Trần Trung K (sinh năm 1974; trú tại: số D hẻm A N, Phường N, Quận B, Thành phố Hà Nội), Phạm Thế C (sinh năm 1983, địa chỉ: số I N, Phường T, Quận C, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Chí D3 (sinh năm 1980; địa chỉ: ngách B ngõ B Â, Phường Q, Quận T, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Chung C1 (sinh năm 1986; trú tại: H V, Phường Ô, Quận Đ, Thành phố Hà Nội), Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1970; trú tại: C ngõ A H, Phường N, Quận B, Thành phố Hà Nội) và Nguyễn Đức C2 (sinh năm 1982; trú tại: P E CC E, Phường P, Quận L, Thành phố Hà Nội) đến nhà H tại địa chỉ số B H, Phường N, Quận B, Thành phố Hà Nội để đánh bạc bằng hình thức đánh chắn ăn tiền tại tầng 1. H là người chuẩn bị bài chắn, đĩa nhựa, giỏ gà và các vật dụng khác phục vụ cho các đối tượng đánh bạc đồng thời cùng đánh bạc với các đối tượng tại chiếu bạc thứ hai và được hưởng lợi số tiền “gà” của các chiếu trích lại khi có người ù. Đến khoảng 17 giờ 30 ngày 30/5/2024, khi các đối tượng đã chơi được nhiều ván thì bị Công an Phường N phát hiện, bắt quả tang.

Các đối tượng cùng chơi chắn ăn tiền như sau: Sử dụng bộ bài chắn gồm 100 quân bài, mỗi quân bài có 04 lá giống nhau từ nhị đến cửu và 04 con chi chi. Việc bốc cái là để xác định ai được phần bài nào và ai là người đánh đầu tiên trong ván.

Cách đánh bài: Theo vòng tay phải mỗi người khi đến lượt có thể thực hiện: đánh, bốc Nọc, ăn, dưới, chíu, trả cửa, ù.

Cách tính tiền, các đối tượng quy ước 01 điểm = 10.000 đồng. "Ù xuông" thì thắng 02 điểm, "Ù thông" thì thắng 03 điểm, "Chì" = 03 điểm, "Chíu" = 03 điểm, "Chíu ù" = 04 điểm, "Bòn" = 03 điểm, "Ù bòn" = 04 điểm, "Thiên khai" = 03 điểm, "Tám đỏ" = 08 điểm, "Lèo" = 05 điểm, "Tôm" = 04 điểm, "Bạch định" = 07 điểm, "Bạch thủ" = 04 điểm, "Bạch thủ ù chi" = 06 điểm, "Ù kính tứ chi" = 12 điểm. Khi có người Ù thì sẽ được tính thêm điểm gọi là gà ngoài. Trong đó 01 điểm sẽ cắt vào phần của chủ nhà và được bỏ vào giỏ “gà” của mỗi chiếu bạc.

- Tại chiếu bạc thứ nhất gồm có 04 đối tượng: Kiều Thị Phương D2, Trần Trung K, Phạm Thế C và Nguyễn Chí D3. Tổng tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 13.430.000 đồng. Ngoài ra còn thu được 01 giỏ đựng số tiền 80.000 đồng là tiền “gà” các đối tượng cắt lại để nộp cho chủ nhà là Phùng Minh H.

- Tại chiếu bạc thứ hai gồm có 04 có đối tượng: Phùng Minh H, Nguyễn Chung C1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Đức C2. Tổng tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 3.600.000 đồng. Ngoài ra còn thu được 01 giỏ đựng số tiền 120.000 đồng là tiền “gà” các đối tượng cắt lại để nộp cho chủ nhà là Phùng Minh H.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình như nêu trên. Tang vật của vụ án gồm có:

Vật chứng thu giữ của Phùng Minh H: số tiền 260.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại Iphone 5 số IMEI: 0134370028633313, số sim 0911060726, 04 bộ bài chắn, 02 giỏ đựng tiền “Gà”, 02 đĩa để quân bài nọc; số tiền “gà” thu trên 02 chiếu là 200.000 đồng.

Vật chứng thu giữ của Phạm Thế C: số tiền 4.540.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại Iphone 14promax màu vàng số IMEI: 350997796143744, số IMEI 2: 350997795292856, số sim: 0968861983.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Chí D3: số tiền 1.920.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại Iphone 11 màu đen, số IMEI 1: 35759332612487, số IMEI 2: 357593326777532, số sim: 0913993889.

Vật chứng thu giữ của Kiều Thị Phương D2: số tiền 1.080.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại Iphone 13promax màu xanh số IMEI 1: 356755856609176, số IMEI 2: 35675585660917, số sim: 0973752666.

Vật chứng thu giữ của Trần Trung K: số tiền 5.890.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại Iphone 11 promax màu ghi, số IMEI 1: 352842113677446, số IMEI 2: 352842113673296, số sim: 0965088768.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Chung C1: số tiền 910.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại Iphone 15promax, số IMEI: 359732433482192, số IMEI 2: 359732433364754, số sim: 0945011286, số sim 2: 0379537531.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T1: số tiền 1.410.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại Nokia 3.4 màu tím, số IMEI 1: 353182112015044, số IMEI 2: 353182112015051, số sim: 0562717934.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức C2: số tiền 1.020.000 đồng dùng để đánh bạc; 01 điện thoại di động Iphone 6 số IMEI: 358374062862209.

Các đối tượng Nguyễn Chung C1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Đức C2 thực hiện hành vi đánh bạc dưới 5 triệu đồng, lý lịch chưa có tiền án tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc hoặc đánh bạc do đó chưa cấu thành tội Đánh bạc quy định tại điều 321 Bộ luật hình sự, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng như sau: Trả lại cho Nguyễn Văn T1 01 điện thoại Nokia 3.4 màu tím, số IMEI 1: 353182112015044, số IMEI 2: 353182112015051, số sim: 0562717934; trả lại cho Nguyễn Chung C1 01 điện thoại Iphone 15promax, số IMEI: 359732433482192, số IMEI 2: 359732433364754, số sim: 0945011286, số sim 2: 0379537531; trả lại cho Nguyễn Đức C2 01 điện thoại di động Iphone 6 số IMEI: 358374062862209.

Công an quận B ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Chung C1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Đức C2 về hành vi đánh bạc.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Toà án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Phùng Minh H; Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự (đối với Kiều Thị Phương D2, Nguyễn Chí D3, Phạm Thế C, Trần Trung K); Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 299; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Phùng Minh H 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 07/6/2024.

Xử phạt: Kiều Thị Phương D2 12 (mười hai) tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường N, quận T, thành phố Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt: Nguyễn Chí D3 9 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường Q, quận T, thành phố Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt: Phạm Thế C 10 (mười) tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường T, quận C, thành phố Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt: Trần Trung K 9 (chín) tháng tù về tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường N, quận B, thành phố Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 20/12/2024, bị cáo Phùng Minh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được cải tạo ngoài xã hội.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • Bị cáo giữ yêu cầu kháng cáo và xin được hưởng án treo để có cơ hội cải tạo ngoài xã hội, trở thành người công dân có ích.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội sau khi phân tích, đánh giá nội dung vụ án và việc xét xử của Toà án cấp sơ thẩm đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:
  • + Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về chủ thể và được làm trong thời hạn kháng cáo nên đề nghị chấp nhận để xem xét.
  • + Về nội dung: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cấp sơ thẩm, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội tổ chức đánh bạc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo có 01 tiền sự từ năm 2004 nên được xác định là có nhân thân tốt có chồng bị bệnh nặng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú rõ ràng nên có thể cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo ngoài xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự để chấp nhận

kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo. Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

  • Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  • Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên chấp nhận để xem xét.

[2] Về nội dung:

Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo như sau: Khoảng 14 giờ ngày 30/5/2024, Phùng Minh H có hành vi liên lạc rủ rê, chuẩn bị dụng cụ gồm bài chắn, đĩa nhựa, giỏ nhựa để các đối tượng Phạm Thế C, Nguyễn Chí D3, Kiều Thị Phương D2, Trần Trung K, Nguyễn Chung C1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Đức C2 chia làm hai chiếu, đánh bạc ăn tiền bằng hình thức chơi chắn tại nhà của H, địa chỉ: tầng 1 nhà số B H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Đến 17 giờ 30 phút thì các đối tượng bị Công an phường N kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền đánh bạc của cả hai chiếu là 17.030.000 đồng (chiếu bạc gồm: Phạm Thế C, Nguyễn Chí D3, Kiều Thị Phương D2, Trần Trung K số tiền đánh bạc là 13.430.000 đồng; chiếu bạc gồm Nguyễn Chung C1, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Đức C2, Phùng Thị H1 số tiền thu trên chiếu bạc là 3.600.000 đồng).

Toà án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo Phùng Minh H phạm tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự, các bị cáo Phạm Thế C, Nguyễn Chí D3, Kiều Thị Phương D2, Trần Trung K về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về mức hình phạt đối với bị cáo Phùng Minh H: Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt 15 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp.

Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bị cáo xin được hưởng án treo để cải tạo ngoài xã hội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo nhân thân có 01 tiền sự từ năm 2004 đến nay là trên 20 năm, đã hết thời hiệu bị coi là xử lý hành chính nên theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP của Hội

đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có nhân thân tốt. Xét quá trình giải quyết vụ án bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị bệnh tim nên bị cáo là lao động chính trong gia đình; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo để cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo ngoài xã hội, trở thành người công dân có ích. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm về việc áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Minh H.

Sửa một phần quyết định bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HSST ngày 18/12/2024 của Toà án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, xử:

  1. Tuyên bố Bị cáo Phùng Minh H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
  2. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo: Phùng Minh H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Phùng Minh H cho Ủy ban nhân dân Phường N, Quận B, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Phùng Minh H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đã được hưởng.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu,

miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội;
  • - Công an Thành phố Hà Nội;
  • - Sở tư pháp Thành phố Hà Nội;
  • - Toà án nhân dân Quận Ba Đình, TP Hà Nội;
  • - VKSND Quận Ba Đình, TP Hà Nội;
  • - Công an Quận Ba Đình, TP Hà Nội;
  • - Chi cục THADS Quận Ba Đình, TP Hà Nội;
  • - UBND Phường Ngọc Hà, Quận Ba Đình, TP Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Những người có liên quan đến kháng cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Chương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2025/HS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 184/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ ngày 30/5/2024, Kiều Thị Phương D2 (sinh năm 1985; trú tại: P tòa N KĐT T, Phường N, Quận T, thành phố Hà Nội liên lạc rủ Phùng Minh H chơi chắn ăn tiền, H đồng ý. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H liên lạc qua điện thoại rủ Trần Trung K (sinh năm 1974; trú tại: số D hẻm A N, Phường N, Quận B, Thành phố Hà Nội), Phạm Thế C (sinh năm 1983, địa chỉ: số I N, Phường T, Quận C, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Chí D3 (sinh năm 1980; địa chỉ: ngách B ngõ B Â, Phường Q, Quận T, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Chung C1 (sinh năm 1986; trú tại: H V, Phường Ô, Quận Đ, Thành phố Hà Nội), Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1970; trú tại: C ngõ A H, Phường N, Quận B, Thành phố Hà Nội) và Nguyễn Đức C2 (sinh năm 1982; trú tại: P E CC E, Phường P, Quận L, Thành phố Hà Nội) đến nhà H tại địa chỉ số B H, Phường N, Quận B, Thành phố Hà Nội để đánh bạc bằng hình thức đánh chắn ăn tiền tại tầng 1. H là người chuẩn bị bài chắn, đĩa nhựa, giỏ gà và các vật dụng khác phục vụ cho các đối tượng đánh bạc đồng thời cùng đánh bạc với các đối tượng tại chiếu bạc thứ hai và được hưởng lợi số tiền “gà” của các chiếu trích lại khi có người ù. Đến khoảng 17 giờ 30 ngày 30/5/2024, khi các đối tượng đã chơi được nhiều ván thì bị Công an Phường N phát hiện, bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger