|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 184/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28 – 11 – 2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Ảnh
Bà Nguyễn Kim Kết
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cẩm Tú là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 353/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nhan Thị Kim H, sinh năm 1998; số CCCD: [...]; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Công D, sinh năm 1995; số CCCD: [...]; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị H trình bày:
Chị H và anh D chung sống năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh D nhiều lần chung sống với người phụ nữ khác, không chung thủy, thiếu sự quan tâm lo lắng cho gia đình, thân tộc hai bên hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng anh D không sửa đổi. Chị H xác định không thể tiếp tục chung sống cùng anh D nên yêu cầu được ly hôn.
Quá trình chung sống chị và anh D có 02 con chung gồm Trần Công D1, sinh ngày 30/8/2019 và Trần Khánh B, sinh ngày 01/10/2023. Khi ly hôn chị H yêu cầu giao Công Dự cho anh D nuôi dưỡng, chị H nuôi dưỡng Khánh B, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.
Về tài sản chung và nợ chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh D trình bày:
Qua trình bày của chị H về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn như chị H trình bày là đúng. Anh có nhiều lần chung sống với người phụ nữ khác, tuy nhiên anh vẫn còn thương chị H, mong muốn có thêm cơ hội để khắc phục khuyết điểm nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung như chị H trình bày là đúng. Trường hợp Tòa án giải quyết cho anh và chị H ly hôn thì anh đồng ý nuôi Công Dự, giao Khánh Băng cho chị H nuôi, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.
Quá trình chung sống anh D xác định anh và chị H không có tài sản chung và nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nội dung: Chị H và anh D chung sống có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh D có nhiều lần chung sống với người phụ nữ khác, vấn đề này được anh D thừa nhận. Chị H xác định tình trạng hôn nhân của anh, chị đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được và không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống cùng anh D nên anh yêu cầu được ly hôn với anh D; anh D không đồng ý ly hôn do anh cho rằng còn thương chị H.
Xét yêu cầu ly hôn của chị H thấy rằng, về nguyên nhân mâu thuẫn các đương sự trình bày thống nhất với nhau nên được xem là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc anh D thường xuyên chung sống với những người phụ nữ khác đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”, theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì theo yêu cầu của một bên Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Đối chiếu với quy định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H ly hôn với anh D là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu về con chung của chị H thấy rằng: chị H yêu cầu giao Công Dự cho anh D nuôi dưỡng, chị H nuôi dưỡng Khánh B, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra, yêu cầu của chị H được anh D thống nhất. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao Công Dự cho anh D nuôi dưỡng; giao Khánh B cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi Công D1 và Khánh B đủ 18 tuổi. Cấp dưỡng nuôi con chị H và anh D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ: Chị H và anh D xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị H phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 92 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nhan Thị Kim H.
- - Về hôn nhân: Cho chị Nhan Thị Kim H được ly hôn với anh Trần Công D.
- - Về con chung: Giao Trần Công D1, sinh ngày 30/8/2019 cho anh Trần Công D; giao Trần Khánh B, sinh ngày 01/10/2023 cho chị Nhan Thị Kim H trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi Công D1 và Khánh B đủ 18 tuổi, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.
Chị Nhan Thị Kim H và anh Trần Công D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nhan Thị Kim H phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003842 ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau (chị H đã nộp xong).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Ngọc Mai |
Bản án số 184/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 184/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
