Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23/6/2025

V/v tranh chấp: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Cường.
  2. Bà Lê Thị Ngọc Thúy.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hùng Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025, về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2025/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Ngô Minh T, sinh năm 1987 (Có mặt);

    Địa chỉ (HKTT): Khu phố Đ, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên.

    Chỗ ở hiện nay: Số A D, phường L, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1980 (Vắng mặt);

    Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn ngày 28/3/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn anh Ngô Minh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T1 tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang vào năm 2016. Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do mâu thuẫn kinh tế kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau dẫn đến quan hệ vợ chồng ngày càng tồi tệ. Anh chị đã ly

thân từ đầu năm 2020 cho đến nay và không có trao đổi hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm không còn, anh yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc T1.

- Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Ngô Gia H, sinh ngày 27/6/2016. Hiện nay, cháu H đang sống với chị T1. Ly hôn, anh giao chị T1 tiếp tục nuôi cháu H, anh sẽ cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, lao động được. Thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T1 vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn anh Ngô Minh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ngô Minh T, cho anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc T1.

Về con chung: Giao con chung tên Ngô Gia H, sinh ngày 27/6/2016 cho chị Nguyễn Thị Ngọc T1 được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Ngô Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T1 vắng mặt không lý do dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị T1 tham gia phiên tòa lần thứ hai; Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, nguyên đơn anh Ngô Minh T không có ý kiến về việc vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét

xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị T1 kết hôn vào năm 2016, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và ngày 14/03/2016 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của anh T, căn cứ vào lời khai của anh T và kết quả xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân của vợ chồng anh chị đã phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2019, nguyên nhân do mâu thuẫn kinh tế kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau dẫn đến quan hệ vợ chồng ngày càng tồi tệ. Anh chị đã ly thân từ đầu năm 2020 cho đến nay và không có trao đổi hàn gắn tình cảm. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T1 không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến hay phản đối yêu cầu ly hôn của anh T nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân những phát sinh mâu thuẫn trong hôn nhân mà anh T trình bày là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Từ những tình tiết nêu trên, có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh T, cho anh T được ly hôn với chị T1 là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Ngô Gia H, sinh ngày 27/6/2016. Hiện nay, cháu H đang sống với chị T1. Chị T1 không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chứng tỏ chị T1 không có ý kiến về việc anh T giao cho chị T1 được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, mặc khác hiện nay cháu H đã sống ổn định với chị T1 do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu H nên cần giao chị T1 được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật; Chị T1 không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu H nên Hội đồng xét xử nhận thấy việc anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình nên được ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh T trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án không có; Chị T1 không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về án phí: Anh T có yêu cầu ly hôn và có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2.5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Ngô Minh T, cho anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc T1.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Ngô Gia H, sinh ngày 27/06/2016 cho chị Nguyễn Thị Ngọc T1 được trực tiếp nuôi dưỡng.

    Anh Ngô Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Ngô Gia H mỗi tháng 3.000.000 (Ba triệu) đồng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, có khả năng lao động được. Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

    Chị Nguyễn Thị Ngọc T1 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Ngô Minh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  3. Về án phí: Anh Ngô Minh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0014078 ngày 28/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang nên anh T còn phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND H.GCĐ;
  • - CC.THADS H.GCĐ;
  • - UBND xã Tân Tây;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Ngọc Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 184/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger