TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU Bản án số: 184/2025/DS-ST Ngày 05 - 6 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Xuân Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mỹ Linh
Ông Nguyễn Hoàng Kha
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm - là Thư ký viên Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 582/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐXXST-DS ngày 18/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hứa Hồng P; Sinh năm: 1960;
Địa chỉ: Ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của ông Hứa Hồng P: Ông Nguyễn Văn N, địa chỉ: Ấp B, xã H, Tp., tỉnh Cà Mau. Theo văn bản ủy quyền ngày 5/8/2024 (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Trương Thu H; Sinh năm: 1972;
Ông Hoàng Văn T
Cùng cư trú: Số D, ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn N đại diện cho ông Hứa Hồng P trình bày: Ngày 01/02/2014âl ông Hứa Hồng P có cho bà Trương Thu H và ông Hoàng Văn T vay số tiền 204.000.000₫ với lãi suất 03%/tháng và cho mượn 05 chỉ vàng 24K nhưng sau khi vay bà Trương Thu H là người viết biên nhận nợ. Tại đơn khởi kiện ông P khởi kiện yêu cầu bà Trương Thu H, ông Hoàng Văn T thanh toán số tiền vốn vay là 204.000.000₫ và 05 chỉ vàng 24K và yêu cầu lãi suất từ ngày vay đến ngày nộp đơn khởi kiện là 125 tháng x 1,66%/tháng, bằng số tiền là 423.300.000đ. Tổng vốn và lãi là 627.300.000₫ và 05 chỉ vàng 24K.
* Bà Trương Thu H trình bày: Bà và ông P không có mối quan hệ quen biết và bà cũng không có vay tiền và vàng của ông P như đại diện nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên bà H thừa nhận vào năm 2014 ông Hoàng Văn T là chồng bà có nhờ viết giấy mượn tiền thể hiện vay của ông Hứa Hồng P số tiền 204.000.000đ và mượn của ông P 05 chỉ vàng 24k nhưng thực tế đây là khoản tiền nợ giữa ông T và ông P không liên quan đến bà và theo bà được biết khoản tiền này là nợ do ông T và ông P giao dịch làm ăn chung và ông T là doanh nghiệp cung cấp tôm cho ông P bán nên từ đó đến nay ông T đã thanh toán xong nợ cho ông P do cấn trừ tiền mua bán hàng hóa. Bản thân bà H và ông T đã chấm dứt quan hệ hôn nhân từ năm 2017 đến nay nhưng do bà và ông T không đăng ký kết hôn không có con chung nên không có yêu cầu Tòa án giải quyết mối quan hệ hôn nhân. Hiện bà H cho rằng bà không nợ nên không đồng ý thanh toán theo yêu cầu của ông P.
Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật, không vi phạm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Trương Thu H thanh toán số tiền vốn vay là 204.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24k; Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Hoàng Văn T cùng có trách nhiệm thanh toán nợ. Về án phí dân sự sơ thẩm, đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quá trình thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt triệu tập hợp lệ để họp công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhiều lần nhưng ông Hoàng Văn T, bà Trương Thu H vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền vay và lãi suất theo quy định nên được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đúng quy định tại Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền vốn vay là 204.000.000đ và 05 chỉ vàng 24K. Qua xem xét thấy rằng hiện nay mặc dù bà H không thừa nhận bà có vay tiền nhưng bà H thừa nhận giấy nhận tiền ngày 01/2/2014 có nội dung “Tôi Trương Thu H ...có vay của anh: Hứa Hồng P (Ấp D) số tiền 204.000.000đ...có nhận anh Hứa Hồng P 01 chiếc nhẫn 5 chỉ vàng 24...” biên nhận này là do bà viết và ký tên. Tuy nhiên, bà H cho rằng do ông Hoàng Văn T nhờ bà viết giấy mượn tiền và nợ này
là nợ cá nhân ông T không liên quan đến bà là không có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ bản thân bà có đủ năng lực hành vi dân sự bà hiểu rõ giá trị của biên nhận và hiểu rõ trách nhiệm của bà khi viết biên nhận, dù cho ông T là người trực tiếp giao dịch với ông P và nhận tiền từ ông P đúng như bà trình bày thì việc bà ký biên nhận nợ là thể hiện sự tự nguyện thanh toán nợ nên bà phải có trách nhiệm thanh toán nợ. Hiện bà H cho rằng khoản tiền này là nợ trong giao dịch mua bán giữa ông T và ông P, ông T đã thanh toán nợ xong từ năm 2017 nhưng bản thân bà không có tài liệu nào chứng minh quá trình mua bán tôm nguyên liệu và đã cấn trừ nợ xong. Trong khi đó hiện ông T không tham gia tố tụng và không đưa ra được chứng cứ đã thanh toán nợ xong, nguyên đơn không thừa nhận có việc giao dịch mua bán và thanh toán nợ. Từ những căn cứ trên chấp nhận yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn phải trả lại số tiền vốn vay là 204.000.000đ và 5 chỉ vàng 24K.
[4] Về lãi suất: Quá trình giao dịch nguyên đơn xác định lãi suất của số tiền 204.000.000₫ là 3%tháng là hoàn toàn phù hợp với giấy nhận tiền ngày 01/02/2014 do bà H đã ký xác nhận. Hiện nguyên đơn xác định quá trình vay bị đơn chưa thanh toán lãi nhưng nguyên đơn tự nguyện bỏ lãi là có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm thanh toán nợ: Mặc dù giấy nhận tiền thể hiện do chính bà H là người giao dịch nợ nhưng nguyên đơn cho rằng khi thực hiện giao dịch vay tiền có mặt cả ông T và bà H, đối với bà H cho rằng nợ cá nhân ông T như vậy có cơ sở xác định quá trình vay tiền ông T biết và có sử dụng tiền chung. Hiện bà H cho rằng bà ông T không đăng ký kết hôn nhưng thừa nhận tại thời điểm thực hiện giao dịch vay tiền ông T và bà H đang sống chung với nhau nên nguồn tiền này sử dụng chung gia đình nên ông T phải cùng bà H có trách nhiệm thanh toán nợ như yêu cầu nguyên đơn là phù hợp.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 466, 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hứa Hồng P. Buộc bà Trương Thu H và ông Hoàng Văn T phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Hứa Hồng P số tiền 204.000.000đ và 05 chỉ vàng 24K.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ông P có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông T, bà H không tự nguyện thi hành xong khoản tiền vay, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: ông Hoàng Văn T, bà Trương Thu H phải nộp là 12.950.000 đồng (chưa nộp). Ông Hứa Hồng P không phải nộp, ngày 01/10/2024 ông P đã được xem xét miễn dự nộp.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ - án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Xuân Trúc |
Bản án số 184/2025/DS-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay
- Số bản án: 184/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ Điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hứa Hồng P. Buộc bà Trương Thu H và ông Hoàng Văn T phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Hứa Hồng P số tiền 204.000.000đ và 05 chỉ vàng 24K.
