Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 184/2024/HS-ST

Ngày 19-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lương Thị Kim Nghĩa và Trần Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Việt T-Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: nhà số B, đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (gia đình đã bán nhà đi đâu không rõ từ năm 2018); nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Châu L và bà Luân Xỉu H1; có chồng là bị cáo Nguyễn Thanh T1 (không đăng ký kết hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ khẩn cấp ngày 02-02-2024, tạm giam ngày 08-02-2024 “có mặt”;
  2. Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: nhà số B, đường B, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (nhà đã bị giải tỏa từ năm 1992 và đi đâu không rõ); nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Thanh H3; có vợ là bị cáo Huỳnh Thị Ngọc H (không đăng ký kết hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 07/3/2014, bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (tuy chưa chấp hành Quyết định, nhưng do từ đó cho đến nay chưa ra quyết định cưỡng chế thi hành Quyết định này nên đã hết thời hiệu thi hành và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); ngày 10/02/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 4, T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong ngày 08/12/2015, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); ngày 15/4/2016, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào Cơ sở xã hội T3 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, nhưng đến ngày 20/7/2016 đã có Quyết định hủy Quyết định này (được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); ngày 23/01/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 4, T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong ngày 04/6/2019, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); bị tạm giữ khẩn cấp ngày 02-02-2024, tạm giam ngày 08-02-2024 “có mặt".

*Bị hại: Công ty Cổ phần T4; địa chỉ: số A, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo pháp luật của Công ty: anh Phạm Văn T2-Tổng Giám đốc.

- Người đại diện theo ủy quyền của Công ty: anh Bùi Ngọc Đ, sinh năm 1993. Nơi thường trú: nhà số F, đường H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 27/01/2024, Huỳnh Thị Ngọc H rủ Nguyễn Thanh T1 (HT1 chung sống với nhau như vợ chồng) đi vào Cửa hàng Bách Hóa X giả vờ làm người mua hàng rồi lấy tài sản để bán kiếm tiền cho H đi khám thai và trả tiền thuê phòng trọ thì T1 đồng ý điều khiển xe môtô hiệu Honda, loại Wave, biển số 59C2-916.74 chở H đi. Lúc 07 giờ 26 phút cùng ngày, cả 02 đến Chi Nhánh Công ty Cổ phần T4-Cửa hàng BHX Số 502 (gọi tắt là Cửa hàng B) tại số C, đường H, phường A, quận B thì T1 vào gửi xe phía trước Cửa hàng rồi cùng H đi vào bên trong Cửa hàng. Khi đó, H đi phía trước vào lấy cái giỏ nhựa màu xanh tại cửa ra vào cầm trên tay trái để đựng hàng, còn T1 đi theo sau đến kệ hàng mỹ phẩm thì H dùng tay phải lấy lần lượt các loại hàng hóa bỏ vào trong giỏ nhựa gồm: 02 tuýp sữa rửa mặt thanh khiết (trông khỏe, mịnh màng) Simple loại 150ml, 06 chai sáp khử mùi hiệu Old Spice loại 85 gram, 04 chai sáp khử mùi hiệu Old Spice loại 73 gram, 05 tuýp sữa chống nắng Sikin Aqua clear White loại 25gram, 02 tuýp sữa dưỡng sang phục hồi Nivea Extra bright night nourish loại 350ml, 01 chai dầu gội hiệu Clear 700gr và 06 tuýp sữa rửa mặt thanh khiết (giảm bóng nhờn) Simple loại 150ml; còn T1 đứng cạnh bên H để che khuất tầm nhìn quan sát của nhân viên bán hàng. Sau đó, HT1 đi đến kệ hàng để bánh ngọt, H dùng tay phải lấy các loại mỹ phẩm từ giỏ ra cất giấu hết vào trước bụng bên trong áo khoác đang mặc, còn trái thì ôm bụng giữ tài sản này lại; còn T1 đứng cạnh bên để che chắn tầm nhìn của nhân viên và camera của Cửa hàng. Xong, H đến cửa ra vào trả lại cái giỏ nhựa rồi dùng cả 02 tay ôm bụng giữ chặt các loại mỹ phẩm trên lại bên người và theo sau T1 đi ra bãi xe để lấy xe về. Tuy nhiên, H mới vừa ra đến gần bãi giữ xe thì cả 02 bị nhân viên của Cửa hàng là các anh Trần Tấn C và Nguyễn Văn H4 phát hiện bắt giữ cùng với vật chứng giao cho Công an phường A xử lý. Sau khi tiếp nhận sự việc và lập hồ sơ ban đầu xong, Công an phường A đã chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, HT1 đều khai nhận đã cùng nhau thực hiện hành vi như vừa mới nêu; tổng giá trị tài sản chiếm đoạt theo định giá là 2.362.472 đồng và đã được thu hồi trả lại cho bị hại; riêng chiếc xe môtô biển số 59C2-916.74 và bộ quần áo của các bị cáo thì tiếp tục tạm giữ để giải quyết sau.

2

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Huỳnh Thị Ngọc HNguyễn Thanh T1 cùng khai nhận: các bị cáo chung sống với nhau như vợ chồng và do lúc đang cần có tiền cho bị cáo H đi khám thai và trả tiền thuê phòng trọ nên khi bị cáo H rủ bị cáo T1 đi vào Cửa hàng Bách Hóa X giả vờ làm người mua hàng để lấy tài sản bán kiếm tiền thì bị cáo T1 liền đồng ý và dùng xe môtô biển số 59C2-916.74 chở bị cáo H đi. Khi các bị cáo đến Cửa hàng B Số 502 và gửi xe xong, bị cáo H đi phía trước vào lấy cái giỏ nhựa tại cửa ra vào cầm trên tay trái để đựng hàng, còn bị cáo T1 đi theo sau đến kệ hàng mỹ phẩm. Tại đây, bị cáo H dùng tay phải lấy lần lượt các loại hàng hóa bỏ vào trong giỏ gồm: 02 tuýp sữa rửa mặt thanh khiết (trông khỏe, mịnh màng) Simple loại 150ml, 06 chai sáp khử mùi hiệu Old Spice loại 85 gram, 04 chai sáp khử mùi hiệu Old Spice loại 73 gram, 05 tuýp sữa chống nắng Sikin Aqua clear White loại 25gram, 02 tuýp sữa dưỡng sang phục hồi Nivea Extra bright night nourish loại 350ml, 01 chai dầu gội hiệu Clear 700gr và 06 tuýp sữa rửa mặt thanh khiết (giảm bóng nhờn) Simple loại 150ml; còn bị cáo T1 đứng cạnh bên để che chắn. Sau đó, cả 02 bị cáo cùng đến kệ hàng bánh ngọt, bị cáo H dùng tay phải lấy các loại mỹ phẩm từ giỏ ra cất giấu hết vào trước bụng bên trong áo khoác đang mặc, còn trái thì ôm bụng giữ tài sản này lại; còn bị cáo T1 đứng cạnh bên để che chắn tầm nhìn của nhân viên và camera của Cửa hàng. Xong, bị cáo H dùng cả 02 tay ôm bụng giữ chặt các loại mỹ phẩm trên lại bên người và theo sau bị cáo T1 đi ra ngoài. Nhưng các bị cáo vừa mới đến gần bãi giữ xe để lấy xe về thì liền bị các anh nhân viên của Cửa hàng phát hiện bắt giữ cùng với vật chứng giao cho Công an giải quyết nên nay các bị cáo thừa nhận đã cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, các bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản đã chiếm và trách nhiệm dân sự; riêng số tài sản còn bị tạm giữ thì không yêu cầu trả lại.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T4 có anh Bùi Ngọc Đ thừa nhận lời khai trên của các bị báo là hoàn toàn đúng nên về trách nhiệm hình sự, anh yêu cầu xử các bị cáo theo quy định của pháp luật; còn về trách nhiệm dân sự thì, do anh đã được nhận lại đủ số tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số: 146/CT-VKS, ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Huỳnh Thị Ngọc HNguyễn Thanh T1 ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: các bị cáo Huỳnh Thị Ngọc HNguyễn Thanh T1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản là các loại mỹ phẩm như đã nêu trên có trị giá 2.362.472 đồng của Chi Nhánh Công ty Cổ phần T5-Cửa hàng BHX Số 502. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội mà trong đó, bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp chiếm đoạt tài sản; còn bị cáo T1 giúp sức tích cực và có nhân thân xấu nên cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; riêng bị cáo H phạm tội khi đang có thai, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i (riêng bị cáo H thêm điểm n), s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo H với mức án từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù và bị cáo T1 với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cùng về “Tội trộm cắp tài sản”. Còn về trách nhiệm dân sự, do bị hại đã được nhận lại đủ số tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không có ý kiến; riêng về vật chứng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe môtô biển số 59C2-916.74 và bộ quần áo của các bị cáo.

Các bị cáo không ai tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo Huỳnh Thị Ngọc HNguyễn Thanh T1 tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Vào lúc 07 giờ 26 phút ngày 27/01/2024, các bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản gồm: 02 tuýp sữa rửa mặt thanh khiết (trông khỏe, mịnh màng) Simple loại 150ml, 06 chai sáp khử mùi hiệu Old Spice loại 85 gram, 04 chai sáp khử mùi hiệu Old Spice loại 73 gram, 05 tuýp sữa chống nắng Sikin Aqua clear White loại 25gram, 02 tuýp sữa dưỡng sang phục hồi Nivea Extra bright night nourish loại 350ml, 01 chai dầu gội hiệu Clear 700gr và 06 tuýp sữa rửa mặt thanh khiết (giảm bóng nhờn) Simple loại 150ml của Chi Nhánh Công ty Cổ phần T4-Cửa hàng BHX Số 502 tại số C, đường H, phường A, quận B. Theo Kết luận định giá tài sản số: 32/KL-HĐĐGTS, ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B thì, các loại tài sản trên có tổng trị giá 2.362.472 đồng. Do đó, các bị cáo Huỳnh Thị Ngọc HNguyễn Thanh T1 đã phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai đại diện bị hại, những người làm chứng; hình ảnh trích xuất từ camera; biên bản, bản ảnh diễn lại hành vi của các bị cáo và thực nghiệm điều tra; vật chứng thu giữ được, kết luận định giá tài sản...nên đã đủ chứng cứ buộc tội các bị cáo và 01 phần đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng mức án đề nghị đối với các bị cáo là quá nặng nên cần phải xử các với mức án thấp hơn sao cho tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của từng bị cáo.

[4] Xét các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác, thực hiện hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản là trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương; các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài cá nhân. Trong vụ án này, tuy các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, sự cấu kết thực hiện tội phạm không chặt chẽ nên không được coi là “Có tổ chức”. Nhưng bị cáo H với vai trò là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp chiếm đoạt tài sản; còn bị cáo T1 giúp sức tích cực và có nhân thân xấu nên cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của từng bị cáo được quy định tại các điều 17 và 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; riêng bị cáo H phạm tội khi đang có thai, có nhân thân tốt và hiện đang trực tiếp nuôi con chưa được 02 tháng tuổi tại T30 (do bị cáo không có nơi cư trú ổn định nên không thể xét cho tại ngoại) nên cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm i (riêng bị cáo H thêm điểm n), s khoản 1 (riêng bị cáo H thêm khoản 2) Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì, “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”; do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy: các bị cáo không có điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét tại phiên tòa hôm nay, bị hại là Công ty Cổ phần T4 có anh Bùi Ngọc Đ làm đại diện theo ủy quyền thừa nhận Công ty anh đã được giao trả lại đủ số tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.

[7] Về vật chứng: Đối với 02 tuýp sữa rửa mặt thanh khiết (trông khỏe, mịnh màng) Simple loại 150ml, 06 chai sáp khử mùi hiệu Old Spice loại 85 gram, 04 chai sáp khử mùi hiệu Old Spice loại 73 gram, 05 tuýp sữa chống nắng Sikin Aqua clear White loại 25gram, 02 tuýp sữa dưỡng sang phục hồi Nivea Extra bright night nourish loại 350ml, 01 chai dầu gội hiệu Clear 700gr và 06 tuýp sữa rửa mặt thanh khiết (giảm bóng nhờn) Simple loại 150ml của Chi Nhánh Công ty Cổ phần T4-Cửa hàng BHX Số 502, Cơ quan điều tra đã thu hồi và giao trả lại bị hại nên không xét. Còn đối 01 xe máy BS 59C2-91674 (vụ Huỳnh Thị Ngọc H+Nguyễn Thanh T1 tội Trộm cắp tài sản) của bị cáo T1 khai, xe do mua của người không rõ lai lịch và không có làm giấy tờ mua bán, nhưng có giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Hoàng S; còn qua kết quả xác minh theo địa chỉ ghi trên giấy đăng ký xe thì, thực tế anh S không có cư trú tại địa phương và đi đâu không rõ; Cơ quan điều đã thực hiện đăng báo tìm chở sở hữu xe để làm rõ, nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai đến giải quyết, xét chiếc xe này thuộc trường hợp không xác định được chủ sở hữu và các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện đến nơi thực hiện tội phạm nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Riêng 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô tên Nguyễn Hoàng S (vụ Huỳnh Thị Ngọc H+Nguyễn Thanh T1 tội Trộm cắp tài sản) được xem là không còn giá trị sử dụng; 01 áo vải hai dây, màu đen + 01 quần vải ngắn màu đen + 01 áo khoác vải thun màu đen (Huỳnh Thị Ngọc H) + 01 quần Jean màu đen (Nguyễn Thanh T1 tội Trộm cắp tài sản) của các bị cáo mặc lúc thực hiện hành vi phạm tội và không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tất cả để tiêu hủy.

[8] Các bị cáo Huỳnh Thị Ngọc HNguyễn Thanh T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
    1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

      Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc H 06 (sáu) tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 02-02-2024.

    2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 09 (chín) tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 02-02-2024.

  2. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy BS 59C2-91674 (vụ Huỳnh Thị Ngọc H+Nguyễn Thanh T1 tội Trộm cắp tài sản).
    • - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô tên Nguyễn Hoàng S (vụ Huỳnh Thị Ngọc H+Nguyễn Thanh T1 tội Trộm cắp tài sản); 01 áo vải hai dây, màu đen + 01 quần vải ngắn màu đen + 01 áo khoác vải thun màu đen (Huỳnh Thị Ngọc H) + 01 quần Jean màu đen (Nguyễn Thanh T1 tội Trộm cắp tài sản).
    • (Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK24/190TV, ngày 27/5/2024)
  3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Các bị cáo Huỳnh Thị Ngọc HNguyễn Thanh T1 mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    Các bị cáo Huỳnh Thị Ngọc HNguyễn Thanh T1; bị hại Công ty Cổ phần T4 (có anh Bùi Ngọc Đ làm đại diện theo ủy quyền) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - VKSND Q.BT;
  • - CQĐT-CA Q.BT;
  • - Nhà tạm giữ-CA Q.BT;
  • - Chi cục THA DS Q.BT;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (thay cho thông báo);
  • - Bị cáo, bị hại (nếu có);
  • - Người tham gia tố tụng khác (nếu có);

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Ái

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 184/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Ngọc H và đồng phạm “Tội trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger