Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 184/2024/HS-ST

Ngày: 12/12/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Phó
  2. Ông Đỗ Thanh Hiền

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 177/2024/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐXXST-HS ngày 29/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đặng Hoàng Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Nhí; Sinh ngày 05 tháng 8 năm 1999, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Đặng Văn N và bà Phạm Thị Á; Bị cáo có 03 anh, chị (lớn nhất sinh năm: 1985, nhỏ nhất sinh năm: 1990); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 30/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo bản án số 09/2019/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/3/2019. Ngày 11/11/2019, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” (theo bản án số 112/2019/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/2024. Chưa xóa án tích; Tiền sự: không;

    Bị bắt tạm giữ từ ngày 12/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 18/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  2. Họ và tên: Phạm Thành Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Đạt Ma; Sinh ngày 22 tháng 11 năm 2001, tại tỉnh Tiền Giang ; Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12 ; Nghề nghiệp: Làm thuê ; con ông Phạm Văn N1 và bà Phan Thị T; Bị cáo có 02 người chị (lớn nhất sinh năm: 1997, nhỏ nhất sinh năm: 1999); Có vợ là Nguyễn Thị V và 01 người con sinh năm 2024; Nhân thân: Ngày 11/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng (theo bản án số 112/2019/HSST). Đã xóa án tích. Ngày 08/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án số 112/2019/HSST, buộc Đ phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là 02 (hai) năm tù (theo bản án số 18/2021/HS-ST). Chấp hành xong ngày 24/7/2022. Đã xóa án tích; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 12/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 18/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  3. Họ và tên: Nguyễn Hồng H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 10 tháng 01 năm 2003, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn P vả bà Nguyễn Thị T1; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 15/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 18/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Ngô Giang Thạch V1, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phạm Thanh H1, sinh năm 2003. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng khuya ngày 10/9/2024, Phạm Thành Đ điều khiển xe môtô loại Honda Vision màu xanh, biển số 63B3 - 960.99 chở Đặng Hoàng Q đi đến nhà của Nguyễn Hồng H tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang chơi. Tại đây, Q, Đ và H bàn bạc cùng nhau đi tìm tài sản để trộm cắp và bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, thì cả nhóm đồng ý và cùng thống nhất thực hiện. Lúc này, Đ điều khiển xe môtô Honda Vision 63B3 - 960.99 chở ba, Q ngồi giữa, H ngồi cuối đi trên các tuyến đường trên địa bàn huyện C, tỉnh Tiền Giang với mục đích tìm tài sản để sản trộm, khi đến nhà của anh Ngô Giang Thạch V1 tại ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, H phát hiện bên trong nhà có một xe môtô loại Yamaha Exciter 150 màu xanh xám đen biển số 63B3 – 667.41 (xe này do anh Trần Tuấn P1, sinh năm: 1986, nơi thường trú: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sở hữu nhưng đã cho lại anh Ngô Giang Thạch V1 quản lý, sử dụng) đang dựng bên trong nhà và không người trông coi, nên H kêu Đ dừng xe lại để vào bên trong nhà lấy trộm xe môtô nói trên thì cả nhóm đồng ý. Lúc này, H xuống xe mở chốt cửa rào để đi vào bên trong vị trí xe môtô Exciter biển số 63B3 – 667.41 đang dựng xem xét tình hình rồi quay trở ra nói với Đ và Q xe đã khóa cổ. Sau đó, H đứng bên ngoài cảnh giới cho Đ và Q đi vào bên trong. Khi đến vị trí xe đang dựng, Đ dùng 02 tay nắm bánh xe trước để phụ giúp Q, Q leo lên xe dùng chân đạp mạnh để bẻ khóa cổ. Sau đó, Q dẫn xe đi ra khi gần đến cửa rào thì H đi vào dẫn xe ra ngoài. Sau khi lấy trộm được xe, Đ điều khiển xe môtô Vision biển số 63B3 – 960.99 chở Q ngồi phía sau dùng chân đẩy H điều khiển xe môtô Exciter biển số 63B3 – 667.41 vừa trộm được. Khi đến một đường hẻm thuộc xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì cả nhóm rẽ vào và dừng lại, H tháo biển số xe môtô Exciter biển số 63B3 – 667.41 ném xuống sông rồi bẻ hai bửng xe phía trước ném lại trên đường sau đó câu dây điện để nổ máy xe, xe nổ máy được nhưng sau đó chập cháy. Lúc này, H gọi điện thoại cho Nguyễn Thanh S (S), sinh năm: 1994, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang để bán xe, nhưng S không có nhu cầu mua nên giới thiệu lại cho Nguyễn Minh T2, sinh năm: 1991, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang mua và T2 cũng không có nhu cầu nên tiếp tục giới thiệu lại cho Phạm Thanh H1 để mua xe thì H1 đồng ý mua. Do H1 đồng ý mua xe, nên S kêu H đem xe Exciter biển số 63B3 – 667.41 đến nhà S, tại đây S đưa trước cho H số tiền 1.000.000 đồng và H để xe lại nhà S. Đến sáng 11/9/2024, H đến nhà S lấy xe đem đi sửa, thay IC do đã bị chập cháy trước đó và lấy số tiền 4.000.000 đồng còn lại. Số tiền 5.000.000 đồng bán xe có được, sau khi trừ chi phí sửa xe, đổ xăng, ăn uống, H còn giữ lại 1.200.000 đồng và chia cho Đ, Q mỗi người được số tiền 1.200.000 đồng. Sau đó, sự việc được phát hiện.

* Vật chứng, đồ vật được tạm giữ:

  • 01 (một) đĩa DVD bên trong có chứa đoạn camera an ninh, thời gian 13 phút 08 giây, dung lượng 11,7MB, trong đó có ghi nhận hình ảnh 03 nam thanh niên có hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 11/9/2024 tại ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 01 (một) xe môtô loại Exciter 150 màu đen, không gắn biển số, số khung bị đục xóa, số máy G3D4E546862 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 63B3 – 667.41.
  • 01 (một) xe môtô hiệu Vision màu xanh rêu bạc biển số 63B3 – 960.99 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 073206 mang tên Nguyễn Hoài P2.
  • Số tiền Việt Nam 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Đây là tiền bán xe môtô đã trộm có được, thu giữ của Đặng Hoàng Q.
  • 01 (một) khẩu súng ngắn dạng súng ổ quay bằng kim loại màu trắng – nâu dài 135mm, trên súng không có ghi ký hiệu, số hiệu, bên trong buồng đạn không có đạn.

* Bản kết luận định giá tài sản số 95/KL-HĐĐG ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang kết luận:

  • Tài sản thu hồi được là 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter 150, màu sơn: xanh xám đen, xe không gắn biển số, số khung: bị đục xóa, không đọc được, số máy: G3D4E546862 có giá 18.000.000 đồng;
  • Tài sản không thu hồi được là 01 biển số xe 63B3 – 667.41. Bị hại trình bày do cơ quan chức năng cấp cùng xe, có giá trị thấp nên Hội đồng định giá không có cơ sở xác định được giá trị.

* Bản kết luận giám định số 1199/KL-KTHS (Đ2) ngày 22/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Số khung trước giám định: Đục xóa. Số khung sau giám định: RLCUG06x0HY523786 (x là ký hiệu số nguyên thủy bị đục xóa, không đọc được).
  • Số máy: G3D4E-546862 trước và sau giám định không đổi.

* Bản kết luận giám định số 1198/KL-KTHS (Đ2) ngày 22/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A nguyên là súng tự chế để bắn được với loại đạn thể theo cỡ (5.6 x 15.5)mm, hiện tại bộ phận búa đập – kim hỏa và khẩu súng không liên kết được với nhau và không bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên đã mất đi tính năng, tác dụng của vũ khí và không phải là vũ khí.

* Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKSCT ngày 10/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Đặng Hoàng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Phạm Thành Đ và Nguyễn Hồng H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình.

* Tại phiên tòa,

Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Hoàng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Phạm Thành Đ và Nguyễn Hồng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố các bị cáo Đặng Hoàng Q, Phạm Thành Đ và Nguyễn Hồng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử: Phạt bị cáo Đặng Hoàng Q 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2024.
  • Áp dụng khoản Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử: Phạt bị cáo Phạm Thành Đ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2024.
  • Áp dụng khoản Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử: Phạt bị cáo Nguyễn Hồng H 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2024.
  • Trả lại cho bị cáo Đặng Hoàng Q 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng).
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khẩu súng ngắn dạng súng ổ quay bằng kim loại màu trắng – nâu dài 135mm, trên súng không có ghi ký hiệu, số hiệu, bên trong buồng đạn không có đạn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Các bị cáo cho rằng do cần tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại để trộm cắp tài sản. Cụ thể vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 11/9/2024, tại ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, các bị cáo Đặng Hoàng Q, Phạm Thành Đ và Nguyễn Hồng H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh xám đen, biển số 63B3 - 667.41 của anh Ngô Giang Thạch V1. Tài sản mà các bị can chiếm đoạt có giá trị là 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).

Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, người làm chứng và các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo Đặng Hoàng Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và các bị cáo Phạm Thành Đ và Nguyễn Hồng H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì muốn hưởng lợi không bằng sức lao động chính đáng của mình mà bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản.

Xét thấy, hành vi phạm tội trên đây của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, cũng như phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.

Trong đồng phạm này, các bị cáo không có sự câu kết chặc chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là người khởi xướng, thực hiện tội phạm và là người tiêu thụ tài sản phạm tội, bị cáo Q1 và Đ là người thực hiện tội phạm.. Trong đồng phạm này thì bị cáo Q khi thực hiện hành vi phạm tội này thì đã tái phạm nên cần chịu mức án nghiêm khắc nhất. Bị cáo Đ từng bị xử lý hình sự về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tội “Trộm cắp tài sản” nay lại tiếp tục hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm khắc hơn bị cáo H.

Xét thấy, tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, các bị đã bồi thường thiệt hại; bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem đây là các tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[4] Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) đĩa DVD bên trong có chứa đoạn camera an ninh, thời gian 13 phút 08 giây, dung lượng 11,7MB, trong đó có ghi nhận hình ảnh 03 nam thanh niên có hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 11/9/2024 tại ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Hiện lưu kèm hồ sơ vụ án.
  • 01 (một) xe môtô loại Exciter 150 màu đen, không gắn biển số, số khung bị đục xóa, số máy G3D4E546862 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 63B3 – 667.41. Quá trình điều tra xác định xe môtô nói trên do Trần Tuấn P1, sinh năm: 1986, nơi thường trú: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sở hữu, sau đó anh P1 cho xe môtô trên cho anh Ngô Giang Thạch V1 quản lý, sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại cho anh V1 xong.
  • 01 (một) xe môtô hiệu Vision màu xanh rêu bạc biển số 63B3 – 960.99 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 073206 mang tên Nguyễn Hoài P2. Quá trình điều tra xác định xe môtô nói trên do anh Nguyễn Hoài P2, sinh năm: 1997, nơi thường trú: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sở hữu, anh P2 đi làm để xe ở nhà vợ là chị Phạm Thị Huỳnh H2, sinh năm: 1999, nơi ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (chị H2 là chị ruột của Đ). Việc Phạm Thành Đ mượn xe sau đó đi trộm cắp tài sản, anh P2, chị H2 hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại cho anh P2 xong.
  • Số tiền Việt Nam 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Đây là tiền bán xe môtô đã trộm có được, thu giữ của bị cáo Đặng Hoàng Q. Tuy nhiên, các bị cáo đã tác động gia đình bồi hoàn cho bị hại và người liên quan nên cần trả số tiền này cho bị cáo Q.
  • 01 (một) khẩu súng ngắn dạng súng ổ quay bằng kim loại màu trắng – nâu dài 135mm, trên súng không có ghi ký hiệu, số hiệu, bên trong buồng đạn không có đạn. Khẩu súng trên theo kết quả giám định thì không phải vũ khí quan dụng và không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại Ngô Giang Thạch V1 đã nhận lại xe môtô bị mất trộm đồng thời đã được gia đình các bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) là tiền xe môtô bị thiệt hại do hành vi của các bị cáo gây nên. Anh V1 đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì khác.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thanh H1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) là tiền mua xe môtô, gia đình các bị cáo đã bồi thường xong. Anh H1 đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì khác.

[6] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình phạt:

    • Tuyên bố các bị cáo Đặng Hoàng Q, Phạm Thành Đ và Nguyễn Hồng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
    • Xử: Phạt bị cáo Đặng Hoàng Q 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2024.
    • Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
    • Xử: Phạt bị cáo Phạm Thành Đ 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2024.
    • Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
    • Xử: Phạt bị cáo Nguyễn Hồng H 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2024.
  2. Về vật chứng:

    • Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự.
    • Trả lại cho bị cáo Đặng Hoàng Q 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng).
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khẩu súng ngắn dạng súng ổ quay bằng kim loại màu trắng – nâu dài 135mm, trên súng không có ghi ký hiệu, số hiệu, bên trong buồng đạn không có đạn.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2024)

  3. Về án phí:

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo, các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • TAND tỉnh Tiền Giang;
  • VKSND h. Châu Thành;
  • Công an h. Châu Thành;
  • Chi cục THADS h. Châu Thành;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 184/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Hoàng Q và ĐP phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger