Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2024/HS-PT

Ngày 28 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt

Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Lâm;

Bà Lê Thị Thuỷ.

-Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt-Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Lan – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 219/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Quý Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 257/2024/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo kháng cáo: Lê Quý Đ - sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện tại: Số nhà F đường Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: kinh doanh; văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị H; vợ Vũ Thị N1, có 03 con: lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 05/8/2011 Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tạm giữ ngày 17/10/2023, tạm giam ngày 26/10/2023, đến ngày 27/12/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị: Hoàng Thị N2, Vũ Huy H1, Lương Trọng P.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH H3. Địa chỉ: Số B ngõ H đường L, phường P, Quận N, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật:Ông Đặng Văn T- Giám đốc.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở đơn tố giác của quần chúng nhân dân về việc Công ty TNHH D2 có dấu hiệu buôn bán hàng giả, ngày 16 tháng 10 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Quý Đ tại số nhà F Đ, phường Đ, thành phố T, và trụ sở Công ty TNHH D2 tại địa chỉ G Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, quá trình khám xét thu giữ: 92 (Chín hai) hộp sản phẩm nhãn hiệu Sâm nữ vương Fujifrance, lô sản xuất 0123; 53 (Năm ba) hộp sản phẩm nhãn hiệu Nuzes Gold G8, lô sản xuất 0122; 248 (Hai trăm bốn tám) hộp sản phẩm nhãn hiệu Collagen Placenta, lô sản xuất 0122.

Tại Công ty Cổ phần D3 tại địa chỉ Đường T, KCN T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, thu giữ: Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố các sản phẩm: Thực phẩm bảo vệ sức khoẻ Omega 369TP; Sáng mắt Kids Eyes; Nuzes gold G8; Sâm nữ vương Fujifrance. Bản tự công bố sản phẩm Thực phẩm bổ sung Collagen Placenta; Hợp đồng gia công sản xuất các sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khoẻ Omega 369TP; Collagen Placenta kèm theo phụ lục hợp đồng, đơn đặt hàng, phiếu xuất kho; Lệnh sản xuất các sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khoẻ; 1000 (Một nghìn) vỏ hộp sản phẩm Sáng mắt Kid Eyes; 50 (năm mươi) vỏ hộp sản phẩm Collagen Placenta; 300 (ba trăm) vỏ hộp sản phẩm Sâm nữ vương Fujifrance; 1000 (Một nghìn) tem chống hàng giả; 200 (Hai trăm) vỏ hộp trà táo Adela do Công ty TNHH H3 chịu trách nhiệm về chất lượng (Số lô: 02.2023, ngày sản xuất 29/6/2023).

Ngày 17/10/2023, Vũ Thị N1 (vợ của Lê Quý Đ) giao nộp: 10 (mười) thùng cattong màu vàng, kích thước khoảng (60x35x40)cm chứa 600 (sáu trăm) hộp sản phẩm Collagen Placenta do Công ty CP D3 sản xuất, lô sản xuất 0122, ngày sản xuất 19/9/2022, hạn sử dụng 18/9/2025; 20 (hai mươi) thùng cattong màu vàng, kích thước khoảng (40x40x30)cm chứa tổng số 720 (bảy trăm hai mươi) hộp sản phẩm Sáng mắt Kid Eyes do Công ty CP D3 sản xuất, lô sản xuất 0223, ngày sản xuất 22/9/2023, hạn sử dụng 21/9/2026.

Ngày 17 tháng 10 năm 2023, Cơ quan điều tra thu giữ 10 hộp sản phẩm sáng mắt Kid Eyes, lô sản xuất 0123, ngày sản xuất 03/4/2023 do Công ty CP D3 sản xuất tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 17/10/2023, Lê Quý ĐHoàng Thị N2 có đơn xin đầu thú và khai nhận: Năm 2018, Lê Quý Đ thành lập và đứng tên người đại diện theo pháp luật Công ty TNHH D2, địa chỉ ở G Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh dược phẩm, thực phẩm chức năng, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ. Đến đầu năm 2022, Lê Quý Đ thành lập Công ty CP D3, địa chỉ ở Đường T, KCN T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh có sự tham gia góp cổ phần của Hoàng Thị N2. Đ là Giám đốc, N2 là người chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm tại nhà máy. Ngoài ra, Đ còn thành lập các Công ty chịu trách nhiệm về chất lượng của sản phẩm do Công ty CP D3 sản xuất như: Công ty CP D3 có địa chỉ tại: Số nhà G thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội do Lê Thị N3 (chị gái Đ) làm Giám đốc, Công ty CP D3 có địa chỉ tại: Số B V, Bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội do Vũ Thị N1 (vợ Đ) làm Giám đốc. Cuối năm 2022, do muốn tăng lợi nhuận nên Lê Quý Đ đã bàn bạc với Hoàng Thị N2 về việc giảm chi phí nguyên liệu sản xuất đầu vào bằng cách cắt giảm thành phần chất chính tạo nên công dụng sản phẩm của một số sản phẩm (như Collagen Placenta, Sáng mắt Kid Eyes...), N2 đồng ý. Cụ thể như sau:

Đối với Collagen Placenta do Công ty cổ phần D3 và thiết bị y tế FUJIFRANCE, Đ nói với Hoàng Thị N2 nghiên cứu lên công thức sản xuất cho sản phẩm với giá thành thấp để dễ cạnh tranh với thị trường, N2 đồng ý và bảo Trần Văn M, là nhân viên của Công ty làm thủ tục công bố sản phẩm còn N2 là người lên lệnh sản xuất thực tế. Quá trình lên lệnh lô 0122 sản xuất ngày 19/9/2022 đối với sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khoẻ Collagen Placenta, N2 đã cắt giảm thành phần chất chính là G xuống dưới 70% so với công bố trên bao bì sản phẩm rồi đưa lệnh trên cho nhân viên Nguyễn Thị Thu P1 nhập thông tin lên phần mềm kế toán MISA để cho Đ theo dõi. Sau đó, P1 chuyển lệnh giấy cho nhân viên kho là Hà Văn D cân đối nguyên liệu để đưa vào sản xuất. Khi sản xuất xong sản phẩm không được kiểm nghiệm theo quy định mà trực tiếp vận chuyển về Công ty TNHH D2 (Trụ sở tại số G Đ, phường Đ, thành phố T) để Lê Quý Đ phân phối ra thị trường bán cho người tiêu dùng với giá 237.963 đồng/hộp sản phẩm.

Đối với Sáng mắt Kid Eyes do Công ty CP D3 chịu trách nhiệm về chất lượng, tương tự với phương thức thủ đoạn như trên, tại lô 0123 Hoàng Thị N2 đã thực hiện giảm thành phần chất chính là Vitamin E và B xuống dưới 70% so với bản công bố trên bao bì sản phẩm và tại lô sản xuất 0223 Nga đã thực hiện cắt bỏ các chất LX, giảm thành phần chất Vitamin E và B xuống dưới 70% so với bản công bố trên bao bì sản phẩm. Sau khi sản xuất và đóng gói xong N2 chuyển sản phẩm về Công ty TNHH D2, Lê Quý Đ bán ra thị trường với giá 64.800 đồng /hộp sản phẩm.

Về sản phẩm Trà táo Adela: Vũ Huy H1 là Giám đốc Công ty TNHH H4 có địa chỉ tại số E N, xã K, huyện G, Thành phố Hà Nội, ngành nghề kinh doanh thực phẩm bổ sung và Hóa mỹ phẩm, qua tìm hiểu thị trường, H1 biết sản phẩm trà táo giảm cân Adela của Công ty TNHH H3 đang được khách hành ưa chuộng. Thông qua mạng xã hội Zalo, H1 quen một người có N “Thủy Tiên”, qua trò chuyện, người này đặt mua của H1 số lượng lớn trà táo giảm cân Adela. Do đó, H1 đã nảy sinh ý định làm giả sản phẩm trên của Công ty TNHH H5 để bán kiếm lời. Tìm hiểu trên mạng Google, H1 đến trụ sở Công ty CP D3KCN T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh trực tiếp gặp Lê Quý ĐHoàng Thị N2 đặt vấn đề làm giả sản phẩm Trà táo Adela. Do trước đấy đã có ý tưởng về việc giảm chi phí nguyên liệu sản xuất đầu vào bằng cách cắt giảm thành phần chất chính tạo nên công dụng sản phẩm của một số sản phẩm nên Đ, N2 đồng ý với giá thành phẩm là

15.600đ/hộp (mỗi hộp 12 gói, mỗi gói trọng lượng 7g). N2 yêu cầu H1 mang sản phẩm chính hãng đến Công ty để thử lên công thức, sau khoảng 3-4 lần lên công thức thì N2 cho ra được sản phẩm giống sản phẩm Trà táo Adela chính hãng. H1 đặt Công ty D3 sản xuất sản phẩm và làm thủ tục công bố sản phẩm trà táo Adela do Công ty TNHH H4H1 là giám đốc. Sau đó, H1 liên hệ với Lương Trọng P là giám đốc công ty TNHH S thuê sản xuất vỏ hộp giả sản phẩm Trà táo A và yêu cầu P làm giả bao bì nhãn hàng của Công ty TNHH H3. P biết H1 làm giả sản phẩm Trà táo Adela của Công ty H3, nhưng vẫn đồng ý sản xuất vỏ hộp Trà táo Adela với giá thành 2.600đ/hộp (Hai nghìn sáu trăm đồng) để bán cho H1. Do Công ty TNHH S không làm được tem chống hàng giả và túi díp đựng trà táo bên trong nên thông qua mạng xã hội, H1 liên hệ với một người phụ nữ tên H2 (người này giới thiệu là kế toán của Công ty TNHH S1 có địa chỉ tại tỉnh Hưng Yên) để sản xuất với giá 600 đồng/ 01 tem. Số túi đựng trà, tem chống hàng giả, vỏ hộp sau khi làm xong được chuyển về Công ty cổ phần D3 để đóng thành phẩm. Sau khi hoàn thành sản phẩm Trà táo Adela theo số lượng H1 yêu cầu thì Hoàng Thị N2 giao hàng cho Vũ Huy H1 và thanh toán bằng tiền mặt, H1 thanh toán cho N2 với giá 15.600/ 1 hộp. Toàn bộ số trà táo A ( giả) H1 đem bán cho người phụ nữ sử dụng Nick zalo “Thuỷ Tiên” và một số khách hàng mua qua mạng xã hội khoảng 4000-5000 hộp (H1 không nhớ cụ thể) với giá 28.000đ/hộp.

Ngày 27/11/2023, Trần Thị Kim C (vợ của Vũ Huy H1) giao nộp 50 thùng catong màu vàng, bên trong chứa 1000 hộp sản phẩm Trà táo Adela, số lô: 02 2023, ngày sản xuất 29/6/2023.

Tại Bản kết luận giám định số 7618/KL-KTHS ngày 25/10/2023, V - Bộ C1 kết luận:

Trong các viên nén (dạng viên sủi) chứa trong hộp sản phẩm Thực phẩm bổ sung ghi nhãn hiệu Collagen PLACENTA, lô sản xuất 0122 gửi giám định có các chỉ tiêu Collagen tỷ lệ 135,3%;Vitamin E 106%; L-Glutathion 28%, so với bản công bố sản phẩm của Công ty.

Tại Bản kết luận giám định số 7748/KL-KTHS ngày 31/10/2023, V - Bộ C1 kết luận:

Chất lỏng chứa trong các ống nhựa đựng trong 02 (hai) hộp sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khoẻ ghi nhãn Sáng mắt Kid Eyes, lô sản xuất 0123 gửi giám định có các chỉ tiêu Lutein là 98%, Xeaxanthin 89,8%, Vitamin A, V1 ( không có tỷ lệ %), Vitamin B2 43% và B ( Không có tỷ lệ %). So với bản công bố sản phẩm của Công ty.

+ Lô sản xuất 0223 gồm 10 hộp sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe ghi nhãn Sáng mắt Kid Eyes : có các chỉ tiêu Lutein ( không có tỷ lệ %), X (không có tỷ lệ %); Vitamin A 1, Vitamin E ( không có tỷ lệ %), Vitamin B2 59% và B ( Không có tỷ lệ %). So với bản công bố sản phẩm của công ty.

Ngày 19/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố T có Quyết định số trưng cầu giám định Phòng K - Công an tỉnh T về tem dán, bao bì sản phẩm Trà táo Adela thu giữ. Tại Bản kết luận giám định số 3895/KL-KTHS ngày 26/10/2023, Phòng K kết luận:

202 (hai trăm lẻ hai) bao bì trà táo Adela mẫu cần giám định (vật chứng thu giữ tại công ty D3Vũ Huy H1 giao nộp) so với 02 (hai) bao bì trà táo Adela mẫu so sánh (do công ty TNHH H3 cung cấp) không cùng bản in in ra. Tem dán ở mẫu bao bì trà táo Adela mẫu cần giám định (vật chứng thu giữ tại công ty D3Vũ Huy H1 giao nộp) so với tem dán ở bao bì trà táo Adela mẫu so sánh (do công ty TNHH H3 cung cấp) không cùng bản in in ra.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐGTS ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự U kết luận:

202 (hai trăm lẻ hai) hộp trà táo Adela của Công ty H3 giá trị 12.120.000₫ (Mười hai triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).

Căn cứ vào kết quả giám định, số hàng hóa được xác định là hàng giả gồm 848 hộp Collagen PLACENTA, 834 hộp Sáng mắt Kid Eyes, 1.202 hộp trà táo Adela giả nhãn hiệu Công ty H3.

Việc thu giữ và xử lý vật chứng:

Đồ vật tạm giữ: Người tố giác giao nộp 01 sản phẩm nhãn hiệu Sâm nữ vương Fujifrance lô sản xuất 0123, 01 sản phẩm nhãn hiệu Nuzes Gold G8 lô sản xuất 0122, 01 sản phẩm nhãn hiệu Collagen Placenta lô sản xuất 0122, 01 sản phẩm nhãn hiệu Sáng mắt Kids Eyes, lô sản xuất 0123.

Quá trình điều tra thu giữ: 92 (Chín hai) hộp sản phẩm nhãn hiệu Sâm nữ vương Fujifrance, lô sản xuất 0123; 53 (Năm ba) hộp sản phẩm nhãn hiệu Nuzes Gold G8, lô sản xuất 0122; 248 (hai trăm bốn tám) hộp sản phẩm nhãn hiệu Collagen Placenta, lô sản xuất 0122; 834 (Tám trăm ba mươi bốn) hộp sản phẩm nhãn hiệu Sáng mắt Kids Eyes, lô sản xuất 0123 và lô sản xuất 0223; 1202 (Một nghìn hai trăm lẻ hai) hộp sản phẩm nhãn hiệu Trà táo Adela, trên bao bì có ghi thương hiệu Công ty TNHH H3; 6000 (Sáu nghìn) gói Trà táo Adela thành phẩm do Công ty TNHH H3 chịu trách nhiệm về chất lượng; 01 (Một) cây máy tính màu đen của Lê Quý Đ; Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố các sản phẩm: Thực phẩm bảo vệ sức khoẻ Omega 369TP; Sáng mắt Kids Eyes; Nuzes gold G8; Sâm nữ vương Fujifrance. Bản tự công bố sản phẩm Thực phẩm bổ sung Collagen Placenta; Hợp đồng gia công sản xuất các sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khoẻ Omega 369TP; Collagen Placenta kèm theo phụ lục hợp đồng, đơn đặt hàng, phiếu xuất kho; Lệnh sản xuất các sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khoẻ; 1000 (Một nghìn) vỏ hộp sản phẩm Sáng mắt Kid Eyes; 50 (năm mươi) vỏ hộp sản phẩm Collagen Placenta; 300 (ba trăm) vỏ hộp sản phẩm Sâm nữ vương Fujifrance;1000 (Một nghìn) tem chống hàng giả; 200 (Hai trăm) vỏ hộp trà táo Adela do Công ty TNHH H3 chịu trách nhiệm về chất lượng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO7 Z 5G màu đen của Lương Trọng P.

Xử lý vật chứng:

- Căn cứ kết luận giám định, Cơ quan điều tra xác định các sản phẩm nhãn hiệu Sâm nữ vương Fujifrance, Nuzes Gold G, Omega 369TP không phải hàng giả. Nên đã giao các sản phẩm này và các tài liệu liên quan cho người đại diện Công ty TNHH D2Công ty CP D3.

Các đồ vật, tài liệu khác gồm: 830 ( tám trăm ba mươi) hộp sản phẩm nhãn hiệu Collagen Placenta, lô sản xuất 0122; 822 ( tám trăm hai hai) hộp sản phẩm nhãn hiệu Sáng mắt Kids Eyes, lô sản xuất 0123 và lô sản xuất 0223; 1202 (Một nghìn hai trăm lẻ hai) hộp sản phẩm nhãn hiệu Trà táo Adela, trên bao bì có ghi thương hiệu Công ty TNHH H3.(Lô SX 02.2023); 02 hộp sản phẩm trà táo Adela của Công ty H3 ; 01 (Một) cây máy tính màu đen của Lê Quý Đ; 6000 (Sáu nghìn) gói Trà táo Adela chưa đóng thành phẩm; 1000 (Một nghìn) vỏ hộp sản phẩm Sáng mắt Kid Eyes; 50 (năm mươi) vỏ hộp sản phẩm Collagen Placenta chưa đóng thành phẩm; 1000 (Một nghìn) tem chống hàng giả; 200 (Hai trăm) vỏ hộp trà táo Adela do Công ty TNHH H3 chịu trách nhiệm về chất lượng chưa đóng thành phẩm; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO7 Z 5G màu đen. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã ra quyết định chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định.

Đối với Lê Thị N3Vũ Thị N1 là giám đốc của công ty cổ phần D3công ty cổ phần D3 là hai đơn vị chịu trách nhiệm về chất lượng của sản phẩm Collgen Placenta và sáng mắt Kid Eyes. Quá trình điều tra xác định Lê Thị N3Vũ Thị N1 là người đứng đại diện pháp luật cho hai công ty nhưng không tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm trên, không biết đó là giả, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với Trần Văn M, Nguyễn Thị Thu P1Hà Văn D là nhân viên công ty cổ phần D3. Quá trình làm việc M, P1D không được Lê Quý ĐHoàng Thị N2 bàn bạc, thỏa thuận về việc giảm hàm lượng của sản phẩm Collgen Placenta và sáng mắt K, không được hưởng lợi, những người này đơn thuần chỉ làm công ăn lương, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với người phụ nữ sử dụng Zalo Thuỷ Tiên, do Vũ Huy H1 không biết tên tuổi, lai lịch, ngoài lời khai của H1 không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với công ty TNHH S1, Cơ quan điều tra làm việc với bà Đặng Thị Kim D1 (giám đốc công ty), bà D1 khai khoảng tháng 7 năm 2023, bộ phận kinh doanh của Công ty báo có khách trên Hà Nội gọi điện đặt in tem bao bì Trà táo Adela, Bà D1 đồng ý và yêu cầu khách hàng cung cấp bản công bố chất lượng sản phẩm, sau khi kiểm tra đủ thủ tục, hai bên có ký hợp đồng nhưng do công ty bị cháy vào tháng 9 năm 2023 nên không còn hồ sơ tài liệu, nên Cơ quan điều tra

không có căn cứ xử lý.

Đối với một số nhà thuốc tiêu thụ các sản phẩm giả do công ty TNHH D2xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa và nhà thuốc Quế Xinh ở huyện H, tỉnh Thanh Hóa, quá trình tiêu thụ không biết các sản phẩm trên là giả, nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, các bị cáo Vũ Huy H1 tự nguyện nộp một phần số tiền thu lời bất chính, với số tiền nộp là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), Lương Trọng P tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lời bất chính 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 257/2024/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ vào:

- Điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 193; điểm s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

- Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quý Đ, phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”

Xử phạt:

- Bị cáo Lê Quý Đ: 36 (Ba sáu) tháng tù. Được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 17/10/2023 đến ngày 27/12/2023). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Phạt bổ sung: Bị cáo Lê Quý Đ 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/7/2024, bị cáo Lê Quý Đ có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh mà Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

Đơn kháng cáo của bị cáo đúng thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, Điều 65 BLHS chấp nhận một phần kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Quý Đ hợp lệ và trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lê Quý Đ là Giám đốc Công ty CP D3, Hoàng Thị N2 là thành viên góp vốn, chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm tại nhà máy. Nhằm mục đích cạnh tranh trên thị trường, tăng lợi nhuận, các bị cáo đã bàn bạc, thống nhất về việc giảm chi phí nguyên liệu sản xuất đầu vào bằng cách cắt giảm thành phần chất chính so với công bố trên bao bì của một số sản phẩm (như Collagen Placenta chỉ tiêu L-Glutathion 28%; Viên sáng mắt Kid Eyes chỉ tiêu Vitamine và B 0%). Sau khi sản xuất xong, các sản phẩm này được chuyển đến Công ty TNHH D2 do Lê Quý Đ điều hành để phân phối ra thị trường. Đồng thời các bị cáo còn sản xuất sản phẩm giả nhãn hàng Trà táo Adela của Công ty TNHH H5 theo yêu cầu của Vũ Huy H1. Tổng trị giá hàng hoá mà Lê Quý ĐHoàng Thị N2 sản xuất, buôn bán hàng giả là 328.258.556 đồng.

Do đó, bị cáo và đồng phạm đã bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo điểm g khoản 2 Điều 193 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo về giảm hình phạt và cho hưởng án treo thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và uy tín của công ty TNHH H3, làm ảnh hưởng đến người tiêu dùng, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đầu thú; cung cấp thông tin cho Đồn biên phòng cửa khẩu L1, Sơn La bắt giữ, khởi tố vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy; ủng hộ nhiều chương trình thiện nguyện; tặng quà cho các cháu học sinh Trường THCS S2, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; có thành tích xuất sắc trong công tác an ninh xã hội trên địa bàn xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai (điểm s,t khoản 1,2 Điều 51 BLHS) xử bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Do vậy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở chấp nhận.

Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới đó là :Đơn trình bày luôn chấp hành tốt mọi quy định tại địa phương; tích cực tham gia đóng góp phòng chống dịch covid, vì người nghèo, học sinh vùng cao và hoạt động nhân đạo tại các tỉnh Lai Châu và Điện Biên, đơn được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết; Tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung 35.000.000đ, án phí HSST; Được Hội chữ thập đỏ tỉnh Lai Châu ghi nhận tấm lòng vàng nhân đạo, tặng giấy khen. Bị cáo có thành tích xuất sắc trong chương trình thiện nguyện “Cơm trên bản”tại xã P, huyện T, tỉnh Yên Bái năm 2024 được tỉnh Đoàn tỉnh Y tặng bằng khen đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền và gia đình cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Kháng cáo xin được hưởng án treo là có cơ sở cũng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ được hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[6]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.

1.Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Quý Đ

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 257/2024/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Căn cứ Điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 193; điểm s,t,v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quý Đ phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”

Xử phạt:

- Bị cáo Lê Quý Đ: 36 (Ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05( Năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về tiền truy thu 35.000.000 đồng và tiền án phí HSST bị cáo đã chấp hành xong.

* Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

2. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tp Thanh Hoá;
  • - Chi cục thi hành án DS tp Thanh Hoá;
  • - Bị cáo; Người có QLNV liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 184/2024/HS-PT ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 184/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quý Đ “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger