|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 184/2023/HS-PT Ngày: 17/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông
Ông Ong Thân Thắng
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên.
Ngày 17/11/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Giáp Thanh H1 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308/2023/QĐXXPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Giáp Thanh H1, sinh năm 1973. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 04/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Giáp Huy Các và con bà Bùi Thị H2, bị cáo có 03 anh em ruột, bản thân là thứ nhất trong gia đình; V là Dương Thị T và bị cáo có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. (Có mặt)
* Người tham gia tố tụng khác gồm 03 bị cáo; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/5/2002, Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 82/2002/QĐ-UB, về việc phê duyệt dự án khu bảo tồn thiên nhiên T gồm 04 xã; A, Thanh L và T, huyện S và xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chủ đầu tư là Ban quan lý Khu bảo tồn thiên nhiên T. Tổng diện tích rừng tự nhiên là 16.466,0ha, trong đó: Đất lâm nghiệp: 15.411,5ha, gồm có: Rừng tự nhiên:13.220,3ha; Rừng trồng: 272,5h; Đất trống: 1.918,7ha; Đất ngoài lâm nghiệp: 1.051.5ha.
Ngày 03/4/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 97/QĐ-UBND về việc giao đất, giao rừng cho B quan lý Khu bảo tồn thiên nhiên T (phân ban K) tại xã A, huyện S kèm theo Sơ đồ ranh giới rừng đặc dụng khu Bảo tồn thiên nhiên T cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: Về đất: Tổng diện tích 5.319,33ha; Về rừng: Tổng diện tích; 4.761,83ha, trong đó rừng tự nhiên: 4.741,18ha, trong đó có khoảnh 66, tiểu khu A, thôn Đ, xã A, huyện S; Rừng trồng: 20,65ha. Thời hạn giao 50 năm.
Đầu tháng 01/2023, Dương Văn L1 do có nhu cầu lấy gỗ về để làm nhà nên khoảng ngày 01/01/2023, L1 đến nhà Mã Văn L2 ở cùng thôn chơi thì gặp Mã Văn B1. Trong quá trình nói chuyện L1 nói với L2, B1 về việc L1 cần gỗ để làm nhà, muốn vào rừng tìm gỗ táu để khai thác về làm nhà. Do Long, B1 cũng nói muốn vào rừng khai thác gỗ về để làm nhà nên đã nói với L1 là cho đi vào rừng khai thác gỗ cùng thì L1 đồng ý. Cả ba người cùng hẹn nhau đến ngày 03/01/2023 sẽ vào khu vực rừng thuộc khoảnh 66, tiểu khu A, thôn Đ, xã A, huyện S tìm gỗ táu khai thác. Sau khi nói chuyện với L2 và B1 thì L1 có gặp Giáp Thanh H1 nói chuyện với H1 về việc L1, L2, B1 đến ngày 03/01/2023 sẽ vào rừng tìm gỗ khai thác để làm nhà, do H1 cũng cần sử dụng gỗ để đóng thùng gỗ nuôi ong nên H1 bảo với L1 cho đi cùng thì L1 đồng ý.
Sáng ngày 03/01/2023, Lưu chuẩn b 01 cưa máy chạy xăng nhãn hiệu Husqvarna 353 màu cam, 02 con dao quắm, 01 thước mét, 01 đoạn dây dù (dây bật mực), mực (pin đại hết điện), B1 chuẩn bị 01 xe máy biển kiểm soát 20B1-212.38, màu xanh đen, lốc máy có chữ SYM. Sau đó L1, B1 và L2 mang theo các công cụ, phương tiện nêu trên để khai thác gỗ. Từ ngày 03/01/2023 đến ngày 05/01/2023, L1, L2 và B1 đi vào rừng đặc dụng là rừng tự nhiên thuộc khoảnh 66, tiểu khu A, thôn Đ, xã A, huyện S tìm cây gỗ táu, cây nào đạt yêu cầu lấy gỗ thì dùng cưa máy cắt gốc cho đổ xuống, dùng thước đo rồi cắt thành từng đoạn theo kích thước cần dùng, rồi xẻ thành hộp để lấy, đoạn nào cần bật mực để xẻ thì dùng dây bật mực kẻ đường để xẻ hộp. Còn H1 do bận công việc nên không đi. Trong các ngày 03, 04, 05 tháng 01/2023, L1, L2, B1 đã tìm và cắt đổ 09 cây táu trắng còn sống (từ cây số 9 đến cây số 17 theo biên bản khám nghiệm hiện trường). Trong quá trình khai thác gỗ, L1, L2, B1 thấy một cây táu trắng đã bị người khác cắt đổ từ trước (cây số 18 theo biên bản khám nghiệm hiện trường) nên đã dùng cưa cắt thân cây thành các đoạn và xẻ hộp với các kích thước khác nhau. Khi khai thác nếu có cây nhỏ, dây leo ở khu vực khai thác thì L1, B1, L2 thay nhau dùng dao phát dọn để lấy chỗ khai thác gỗ. Từ 03/01/2023 đến
05/01/2023, L1, B1, L2 đã cắt xẻ từ 10 cây gỗ nêu trên được khoảng 20 hộp gỗ xẻ. Sau khi khai thác, B1, L2 đã dùng xe mô tô gắn biển kiểm soát 20B1-212.38 vận chuyển được 11 hộp gỗ xẻ (được đánh số thứ tự từ 1 đến 11 theo biên bản thu giữ vật chứng) được khai thác từ các cây táu trắng còn sống về cất giấu trong cống thoát nước qua đường bê tông thôn Đ (cách nhà L1 khoảng 500m), còn lại khoảng 10 hộp gỗ L1, B1, L2 để tại bìa rừng giáp suối, gần khu vực đã khai thác, sau đó số gỗ này đã bị mất.
Ngày 08/01/2023, Lưu chuẩn b 01 cưa máy chạy xăng nhãn hiệu Husqvarna 353 màu cam, 01 thước mét, 01 đoạn dây dù (dây bật mực), B1 chuẩn bị 01 xe máy gắn biển kiểm soát 20B1-212.38, H1 chuẩn bị 02 con dao quắm cùng L2 vào khu vực rừng nêu trên tìm gỗ táu để khai thác. Từ ngày 08 đến ngày 09/01/2023, L1, L2, B1 thay nhau dùng cưa cắt đổ 06 cây táu còn sống (từ cây số 01 đến cây số 06 theo biên bản khám nghiệm hiện trường), đã xẻ được 05 cây (từ cây số 01 đến cây số 4 và cây số 06) thành 24 hộp gỗ xẻ với nhiều kích thước khác nhau, do H1 không biết dùng cưa nên giúp đo gỗ, bật mực, phát cây nhỏ, dây leo để L1, L2, B1 cắt cây, xẻ hộp. Trong qúa trình khai thác cây táu trắng (cây số 3) bị vướng vào cây xoan nhừ đã chết từ trước (cây số 07) nên L1, L2, B1 đã dùng cưa cắt gốc cây xoan nhừ cho đổ xuống để khai thác cây táu. Trong quá trình khai thác gỗ, L1, L2, B1, H1 thấy một cây táu trắng bị bật gốc chết từ trước (cây số 08) nên đã dùng cưa cắt thân cây thành 03 đoạn và xẻ thành 06 hộp gỗ (được đánh số thứ tự từ 12 đến 16 và 35 theo biên bản thu giữ vật chứng). Cây số 05 Lưu, B1, L2, H1 đã cưa đổ nhưng chưa kịp xẻ hộp. Trong các ngày 08, 09 tháng 01/2023, L1, L2, B1, H1 đã cắt xẻ từ 07 cây táu được tổng số 28 hộp gỗ xẻ. Ngày 08/01/2023, H1 đã vận chuyển 02 hộp gỗ xẻ về nhà, (02 hộp gỗ này sau này H1 đã xẻ ra đóng thành 06 thùng gỗ để nuôi ong). Còn lại 26 hộp gỗ (được đánh số thứ tự từ 12 đến 37) các đối tượng tập kết tại bờ suối gần khu vực khai thác.
Khoảng 14 giờ ngày 09/01/2023, khi L1, L2, B1, H1 đang khai thác gỗ thì bị Tổ công tác của Trạm kiểm lâm địa bàn Đ thuộc Ban Q và Trạm bảo vệ rừng A thuộc Ban Q1 trong khi đi tuần tra kiểm soát rừng phát hiện. Khi thấy lực lượng kiểm lâm đến thì L1, L2, B1, H1 cầm theo 02 dao quắm, 01 thước mét, 01 dây bật mực bỏ chạy. Để lại hiện trường 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 20B1-212.38, màu xanh đen, lốc máy có chữ SYM, trên xe có 01 hộp gỗ; 01 cưa máy chạy xăng nhãn hiệu husqvarna 353 màu cam; và 25 hộp gỗ xẻ khác, các hộp gỗ. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ toàn bộ tang vật là số gỗ trên. Sau khi phát hiện các đối tượng khai thác rừng trái phép và thu giữ toàn bộ vật chứng Trạm kiểm lâm địa bàn Đ thuộc Ban Q đã mời Dương Văn L1, Mã Văn L2, Mã Văn B1, Giáp Thanh H1 đến trụ sở để làm việc. Quá trình làm việc các đối tượng đều thừa nhận hành vi khai thác gỗ trái phép của bản thân như đã nêu ở trên.
Ngày 18/3/2023, Trạm kiểm lâm địa bàn Đ, xã A, huyện S đã phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc. Quá trình khám nghiệm phát
hiện khu vực các đối tượng khai thác gỗ có 18 cây gỗ bị khai thác trái phép được đánh số thứ tự từ 01-18.
Ngày 21/3/2023, Dương Văn L1, Mã Văn L2, Mã Văn B1, Giáp Thanh H1 đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S 11 hộp gỗ khai thác trái phép có kích thước khác nhau, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 11 hộp gỗ được đánh số thứ tự từ 01 -11 theo quy định.
Ngày 22/3/2023, Trạm kiểm lâm địa bàn Đ, xã A, huyện S đã bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ việc cùng vật chứng là 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 20B1-212.38, màu xanh đen, lốc máy có chữ SYM; 01 cưa máy chạy xăng nhãn hiệu husqvarna 353 màu cam; 26 hộp gỗ xẻ được đánh số thứ tự từ 12 đến 37 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S để điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã phối hợp với Trạm kiểm lâm địa bàn Đ, xã A đo đạc, xác định khối lượng của tổng 37 hộp gỗ xẻ đã thu giữ là 1,975m³ (quy tròn 3,160m3), trong đó: 11 hộp gỗ xẻ có số thứ tự 01 đến 11 thu giữ trong cống thoát nước, có khối lượng 0,605m³ (quy tròn 0,968 m³); 26 hộp gỗ xẻ có số thứ tự tự 12 đến 37 do Trạm kiểm lâm địa bàn Đ bàn giao, có khối lượng 1,370m³ (quy tròn 2,192m³). Trong đó: 06 hộp gỗ xẻ từ cây số 8 có số thứ tự 12, 13, 14, 15, 16, 35, có khối lượng 0,285m³ (quy tròn 0,456m³).
Ngày 25/3/2023, Dương Văn L1 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 dao quắm bằng kim loại dài 41cm, rộng 04cm; 01 dao quắm dài 36cm, rộng 04 cm; 01 thước mét màu xanh; 01 sợi dây màu đen dài 3,8m. Ngày 10/4/2023, Giáp Thanh H1 giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 dao quắm dài 43cm, rộng 4,5cm; 01 dao quắm dài 39cm, rộng 4,5cm.
Ngày 14/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Lệnh khám xét nơi ở của Dương Văn L1, Mã Văn L2, Mã Văn B1, Giáp Thanh H1 ở thôn Đ, xã A, huyện S. Quá trình khám xét nơi ở của Giáp Thanh H1, cơ quan điều tra thu giữ tại vườn nhà H1 06 thùng gỗ có kích thước khác nhau, tất cả đều có dạng hình hộp chữ nhật, một mặt không có nắp được đánh số thứ tự từ 01 -06. Khám xét nơi ở của Dương Văn L1, Mã Văn L2, Mã Văn B1 không thu giữ được tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của L1, L2, B1.
Ngày 29/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Quyết định trưng cầu giám định số 32/QĐ-CQĐT, trưng cầu Viện nghiên cứu Công nghiệp rừng giám định loài cây của các cây gỗ bị Dương Văn L1, Mã Văn L2, Mã Văn B1, Giáp Thanh H1 chặt hạ, khai thác; trưng cầu Giám định viên - Viện điều tra quy hoạch rừng, giám định trữ lượng, giá trị của các cây gỗ bị chặt hạ, khai thác. Tại kết luận giám định số 166/CNR-VP, ngày 03/4/2023 của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng, kết luận: Mẫu gỗ có ký hiệu từ 01 đến 06 và từ 08 đến 18 có tên Việt Nam: Táu trắng (Làu táu), tên khoa học: Vatica odorata (Vatica dyeri), nhóm gỗ III; mẫu có ký hiệu 07 có tên Việt Nam Xoan nhừ (Lát xoan), tên khoa học hoerospondias axillaris. Hai loài gỗ giám định nêu trên không có tên trong “Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Chính phủ và “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” ban hành kèm theo
Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ nên là các loài cây gỗ thông thường.
Ngày 13/4/2023, giám định viên - Viện điều tra quy hoạch rừng có Kết luận giám định số 01-2023/KL/GĐCN, kết luận: 18 cây gỗ bị chặt có tổng trữ lượng: 12,787m³ gỗ, 1,28 Ste củi. Tổng giá trị: 67.819.000đ, trong đó: Gỗ có giá trị 67.051.000đ; củi có giá trị 768.000đ (có bảng phụ lục tổng hợp trữ lượng, giá gỗ cây đứng kèm theo).
Ngày 10/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Quyết định trưng cầu giám định số 35/QĐ-CQĐT, trưng cầu Viện nghiên cứu công nghiệp rừng giám định loài của 37 hộp gỗ xẻ được đánh số từ 01 đến 37 đã thu giữ. Tại Kết luận giám định số 192/CNR-VP, ngày 12/4/2023 của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng, kết luận: 37 mẫu gỗ giám định đồng nhất một chủng loại gỗ, tên Việt Nam: Táu trắng (Làu táu), tên khoa học: Vatica odorata (Vatica dyeri).
Ngày 19/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Yêu cầu định giá tài sản số 17/YCĐG-CQĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện S định giá 37 hộp gỗ, 06 thùng gỗ, đóng dạng hộp chữ nhật một mặt không có lắp. Tại kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 08/6/2023 của cầu Hội đồng định giá tài sản huyện S xác định: Tổng giá trị tài sản của 37 hộp gỗ là 13.839.000đ; 06 thùng gỗ, đóng dạng hộp chữ nhật một mặt không có nắp là 1.200.000đ (có bảng tổng hợp giá kèm theo). Tổng cộng là 15.039.000đ.
Ngày 28/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Yêu cầu định giá tài sản số 18/YCĐG-CQĐT đề nghị Hội đồng định giá tài sản huyện S định giá 18 bị chặt hạ, khai thác. Tại Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 08/6/2023 xác định: Tổng giá trị của 18 cây gỗ bị chặt hạ, khai thác là 67.819.000đ (có bảng tổng hợp giá kèm theo).
Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Dương Văn L1, Mã Văn B1, Mã Văn L2 và Giáp Thanh H1 thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
* Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã quyết định: Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 232; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Giáp Thanh H1 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, giải quyết về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Ngày 01/9/2023, bị cáo Giáp Thanh H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo
* Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo Giáp Thanh H1 rút nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Giáp Thanh H1, sửa Bản án hình sự sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Giáp Thanh H1 01 năm tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thửa thách đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo không có quan điểm tranh luận gì.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh xét xử đối với bị cáo Giáp Thanh H1, HĐXX thấy:
Do các bị cáo đều cần gỗ để sử dụng làm nhà và các vật dụng cho gia đình, nhận thấy công tác trông coi bảo vệ rừng của Ban Q lỏng lẻo nên các bị cáo đã rủ nhau vào vào rừng đặc dụng là rừng tự nhiên thuộc khoảnh 66, tiểu khu A, thôn Đ, xã A, huyện S khai thác gỗ trái phép về để sử dụng, cụ thể:
Trong các ngày 03, 04, 05, 08, 09 tháng 01 năm 2023, Dương Văn L1, Mã Văn B1 và Mã Văn L2 đã sử dụng cưa máy, dao quắm, xe mô tô, thước mét, 01 sợi dây dù, mực bằng pin đi vào rừng đặc dụng là rừng tự nhiên thuộc khoảnh 66, tiểu khu A, thôn Đ, xã A, huyện S do Ban Q quản lý cùng nhau chặt hạ, khai thác trái phép 15 cây táu trắng (từ cây số 01 đến cây số 06 và từ cây số 09 đến cây số 17 theo biên bản khám nghiện hiện trường), có tổng khối lượng 9,774m³ gỗ, 0,978 ste củi, trị giá 47.860.400đ.
Trong các ngày 08, 09 tháng 01/2023, Giáp Thanh H1 cùng tham gia với Dương Văn L1, Mã Văn B1, Mã Văn L2 vào rừng đặc dụng là rừng tự nhiên thuộc khoảnh 66, tiểu khu A, thôn Đ, xã A, huyện S do Ban Q quản lý cùng nhau chặt hạ, khai khai thác trái phép 06 cây táu trắng (từ cây số 01 đến cây số 06 theo biên bản khám nghiệm hiện trường), tổng khối lượng 4,019m³ gỗ, 0,402ste củi, trị giá 19.985.000đ có bảng phụ lục tổng hợp trữ lượng, giá gỗ cây đứng kèm theo).
Khoảng 14 giờ ngày 09/01/2023, khi L1, L2, B1, H1 đang khai thác gỗ trái phép thì bị Tổ công tác của Trạm kiểm lâm địa bàn Đ thuộc Ban Q và Trạm bảo vệ rừng A thuộc Ban Q1 trong khi đi tuần tra kiểm soát rừng phát hiện L1, L2, B1 và H1 đã bỏ chạy để lại hiện trường 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 20B1-212.38, màu xanh đen, lốc máy có chữ SYM, trên xe có 01 hộp gỗ; 01 cưa máy chạy xăng nhãn hiệu husqvarna 353 màu cam; và 25 hộp gỗ xẻ khác.
Như vậy trong các ngày 03, 04, 05, 08, 09 tháng 01 năm 2023, Dương Văn L1, Mã Văn B1 và Mã Văn L2 đã chặt hạ, khai thác 15 cây táu trắng, có tổng khối lượng 9,774m³ gỗ, 0,978ste củi, trị giá 47.860.400đ; Ngày 08, 09 tháng 01/2023, Giáp Thanh H1 đã cùng với Dương Văn L1, Mã Văn B1 và Mã Văn L2 chặt hạ, khai khai thác 06 cây táu trắng, tổng khối lượng 4,019m³gỗ, 0,402ste củi, trị giá 19.985.000đ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lí nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Gây thiệt hại về mặt vật chất như số lượng gỗ khai thác trái phép, diện tích rừng, đất trồng rừng bị phá hủy. Ngoài ra còn gây ra những hậu quả khác như xâm phạm tới trật tự quản lí kinh tế của nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Như vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo Điều 232 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Giáp Thanh H1 phạm tội theo điểm e khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo H1 xác định Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng người đúng tội, không oan.
Tại phiên tòa, bị cáo H1 thay đổi kháng cáo, bị cáo chỉ kháng cáo xin hưởng án treo nên các vấn đề khác của bản án sơ thẩm đã tuyên về tội danh, điều luật áp dụng, phạt bổ sung, xử lý vật chứng. án phí sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, HĐXX phúc thẩm không đặt ra giải quyết.
[2]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, HĐXX thấy:
Trong vụ án này, bị cáo Giáp Thanh H1 phạm tội với vai trò thứ yếu, đứng sau cùng trong vụ án. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tự nguyện bồi thường thiệt hại. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo xác định hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Giáp Thanh H1 01 năm tù về tội tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” là đúng người, đúng tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Giáp Thanh H1 xuất trình cho Hội đồng xét xử các tài liệu: Bị cáo có bố đẻ, mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba; được địa phương xác nhận quá trình sống bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật của địa phương, đóng góp đầy đủ các khoản quỹ của địa phương, không vi phạm pháp luật gì. Do vậy cần áp dụng cho bị cáo thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Giáp Thanh H1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức việc làm của mình là sai trái, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện, bị cáo xuất trình được thêm nhiều tình tiết
giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội. Để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, không cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
[3]. Từ những nội dung trên, HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Giáp Thanh H1. Sửa bản án thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang theo nhận định đã nêu ở trên.
[4]. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận căn cứ quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Giáp Thanh H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Giáp Thanh H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 232; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Giáp Thanh H1 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Giáp Thanh H1 cho UBND xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo, bị cáo Giáp Thanh H1 thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Án phí phúc thẩm: Bị cáo Giáp Thanh H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Ong Thân Thắng |
Nguyễn Trung Thông |
Hoàng Thị Hải H3 |
9
10
Bản án số 184/2023/HS-PT ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (phúc thẩm)
- Số bản án: 184/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giáp Thanh Hải - “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”
