Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 30/11/2023

Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

Bà Hà Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 595/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Đào Hữu Đ, sinh năm: 1960. Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày như sau:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Đào Hữu Đ tự quen biết, tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất làm lễ cưới, nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau đó vợ chồng bà về sinh sống tại khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
  • Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng đến thời gian sau này, vợ chồng thường xảy ra bất hoà, do tính tình không hợp, nên thường xuyên cải vã, có lúc ông Đ hành hung bà. Nên bà và ông Đ đã không còn quan hệ vợ chồng với nhau khoảng 06 năm nay. Do vậy, bà cảm thấy không thể sống chung với ông Đ được nữa, nên bà yêu cầu Tòa án không công nhận giữa bà với ông Đào Hữu Đ là vợ chồng.
  • - Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, bà với ông Đ có hai con người chung tên Đào Hữu K, sinh ngày 10/02/1990 (đã bệnh chết - Có trích lục khai tử) và Đào Hữu H1, sinh ngày 15/7/1991. Hiện nay Đào Hữu H1 đã trưởng thành và có gia đình riêng, nên bà không yêu cầu Toà án không xem xét, giải quyết.
  • - Về quan hệ tài sản chung: Bà H và ông Đ tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
  • - Về nợ chung: Bà H xác định quá trình chung sống bà và ông Đ không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn ông Đào Hữu Đ trình bày như sau:

Ông thống nhất với trình bày của bà H về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng ông bà là do bất đồng quan điểm sống. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, ông có ý kiến như sau:

  • - Về hôn nhân: Ông đồng ý với nội dung khởi kiện của bà H là yêu cầu Tòa án không công nhận ông bà là vợ chồng.
  • Về con chung: Ông và bà H chung sống có hai con chung như bà H trình bày. Đối với con tên Đào Hữu K, sinh ngày 10/02/1990 (đã bệnh chết - Có trích lục khai tử), còn con tên Đào Hữu H1 đã trưởng thành và có gia đình riêng, nên ông cũng thống nhất là không yêu cầu Toà án không xem xét, giải quyết.
  • Về tài sản chung: Ông và bà H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Ông và bà H không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị H yêu cầu Toà án không công nhận bà và ông Đào Hữu Đ là vợ chồng. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn ông Đào Hữu Đ có nơi cư trú tại khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bị đơn ông Đào Hữu Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Đào Hữu Đ đều xác nhận rằng ông bà về chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo định của pháp luật. Đồng thời, theo xác nhận ngày 27/9/2023 của Ban lãnh đạo khu phố T và Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, xác định bà Nguyễn Thị H và ông Đào Hữu Đ chưa đăng ký kết hôn. Vì vậy, có thể khẳng định bà H và ông Đ trình bày ông bà không có đăng ký kết hôn là đúng sự thật.

Sau thời gian chung sống với nhau, bà H cho vợ chồng thường xảy ra bất hoà, do tính tình không hợp, nên thường xuyên cải vã, có lúc ông Đ hành hung bà. Nên bà và ông Đ đã không còn quan hệ vợ chồng với nhau khoảng 06 năm nay. Còn ông Đ cho rằng giữa ông và bà H có phát sinh mâu thuẫn, mà chủ yếu là do ông bà bất đồng về quan điểm sống và đã không ngủ chung với nhau nhiều năm. Chính vì vậy, khi bà H yêu cầu Tòa án không công nhận giữa bà H với ông Đ là vợ chồng, thì được ông Đ đồng ý.

Xét thấy, thời điểm bà H và ông Đ thiết lập quan hệ hôn nhân, thì ông bà đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng ông bà không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Đ đã vi phạm vào khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, HĐXX thống nhất tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị H và ông Đào Hữu Đ là vợ chồng.

[3.2] Về quan hệ con chung: Bà H và ông Đ có có hai con người chung tên Đào Hữu K, sinh ngày 10/02/1990 (đã bệnh chết - Có trích lục khai tử) và Đào Hữu H1, sinh ngày 15/7/1991. Hiện nay Đào Hữu H1 đã trưởng thành và có gia đình riêng, nên bà H và ông Đ thống nhất không yêu cầu Toà án không xem xét, giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.

[3.3] Về quan hệ tài sản chung: Bà H và ông Đ thống nhất ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.

Về nợ chung: Bà H và ông Đ xác định giữa ông bà không có nợ chung, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bà Nguyễn Thị H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị H và ông Đào Hữu Đ là vợ chồng.
  2. Về quan hệ con chung: Hiện nay còn một con chung tên Đào Hữu H1, sinh ngày 15/7/1991 đã trưởng thành và có gia đình riêng, nên bà H và ông Đ thống nhất không yêu cầu Toà án không xem xét, giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  3. Về quan hệ tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Đào Hữu Đ thống nhất ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Đào Hữu Đ xác định giữa ông bà không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003587 ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Bà Nguyễn Thị H không phải nộp thêm.
  6. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  7. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - THADS huyện Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2023/HNGĐ-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 183/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H kiện Đào Hữu Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger