|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 183/2024/DS-ST Ngày: 30 - 5 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Hữu Tấn
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 571/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 283/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K;
Trụ sở: Số D - 42 - D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ/chức danh: Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V, chức vụ/chức danh: Phó Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền lại:
- Ông Danh T, chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ khu vực – Phòng Xử lý nợ – Ngân hàng K;
2
Địa chỉ liên hệ: Ngân hàng K, Số D - 42 - D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Phạm Đông X, chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ khu vực – Phòng Xử lý nợ - Ngân hàng K;
Địa chỉ liên hệ: Ngân hàng K – Chi nhánh A1, Số B - 21A2 đường L, Khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Ông Trần Thanh V1, chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ khu vực – Phòng Xử lý nợ - Ngân hàng K;
Địa chỉ liên hệ: Ngân hàng K, Số B đường P, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Ông Bùi Vĩnh T1, chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ khu vực – Phòng Xử lý nợ - Ngân hàng K;
Địa chỉ liên hệ: Ngân hàng K, Số C, đường N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
- Ông Nguyễn Khoa H, chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ khu vực – Phòng Xử lý nợ - Ngân hàng K;
Địa chỉ liên hệ: Ngân hàng K – Chi nhánh A1, Số B - 21A2 đường L, Khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn:
- Ông Trần Văn N, sinh năm 1954;
- Ông Trần Thanh T2, sinh năm 1977;
- Ông Trần Thanh T3, sinh năm 1979;
Cùng cư trú: Tổ H, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bà Trần Thị Thanh T4, sinh năm 1974;
Cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (gần bến đò số 28)
- Ông Trần Thanh T5, sinh năm 1984;
- Bà Trần Thị Thanh T6, sinh năm 1987;
Cùng cư trú: Tổ H, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bà Trần Thị Châu P, sinh năm 1990;
Nơi ở hiện nay: Tổ A, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang;
Địa chỉ liên lạc: Tổ H, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Trần Thị Châu Đ, sinh năm 2018;
Người đại diện theo pháp luật của cháu Đ là ông Trần Thanh T5 (cha ruột cháu Đ).
- Bà Bùi Thị Ánh T7, sinh năm 1979;
3
- Anh Trần Thanh L, sinh năm 2003;
- Chị Trần Thị Châu Á, sinh năm 2000;
- Anh Trần Thanh D, sinh năm 2000;
- Cháu Trần Thanh T8, sinh năm 2021;
Người đại diện theo pháp luật của cháu T8 là chị Trần Thị Châu Á và anh Trần Thanh D;
- Cháu Trần Thị Thùy A, sinh năm 2016;
Người đại diện theo pháp luật của cháu A là ông Trần Thanh T2 và bà Bùi Thị Ánh T7;
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1978;
- Anh Trần Thanh H2, sinh năm 2002;
- Anh Trần Thanh Hải E, sinh năm 2007;
Người đại diện theo pháp luật của anh Hải E là ông Trần Thanh T3 và bà Nguyễn Thị Mỹ H1;
Cùng cư trú: Tổ H, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, ông Phạm Đông X đại diện cho nguyên đơn có mặt; những người đại diện khác của nguyên đơn, các bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình làm việc, hòa giải, giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Bùi Thị Q và ông Trần Văn N có ký kết Hợp đồng tín dụng số 3244/HĐTD ngày 16 tháng 3 năm 2011 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TD 3244/HĐTC ngày 16 tháng 3 năm 2011 với Ngân hàng thương mại cổ phần K – Chi nhánh A1 để Ngân hàng thương mại cổ phần K (viết tắt là Ngân hàng) cho bà Bùi Thị Q và ông Trần Văn N vay khoản tiền 40.000.000 đồng; mục đích vay: Bổ sung vốn tiêu dùng và làm kinh tế phụ; thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày bên vay vốn ký nhận nợ lần đầu, ngày giải ngân 16 tháng 3 năm 2011; lãi suất vay: 1.80%/tháng (điều chỉnh 03 tháng/lần); lãi suất nợ quá hạn: 150% (gấp 1,5 lần) lãi suất cho vay ngay trước thời điểm nợ quá hạn.
Để đảm bảo cho khoản vay, bà Q và ông N đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là quyền sử dụng đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 56, diện tích 387,6m²; tọa lạc tại: Xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn 387,6m²; thời hạn sử dụng: Đất ở tại nông thôn lâu dài; Nguồn gốc sử dụng: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: H.01378kA do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007 cho ông Trần Văn N và bà Bùi Thị Q.
4
Quá trình thực hiện hợp đồng do bà Q và ông N đã vi phạm nghĩa vụ, không thực hiện trả dư nợ gốc và lãi, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở. Hiện nay, bà Q đã chết và Ngân hàng đã xác định được những người thuộc hàng thừa kế của bà Q là: Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P.
Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện và sửa đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Khởi kiện đối với ông Trần Văn N và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Q gồm: Nhục, T2, T3, T4, T5, T6, P.
- Yêu cầu các ông, bà: Nhục, T2, T3, T4, T5, T6, P:
- + Phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền dư nợ gốc và tiền lãi (lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi), phí... phát sinh trên dư nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ.
- + Ngân hàng tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu phải trả số tiền phạt chậm trả lãi.
- + Nếu các ông, bà: Nhục, T2, T3, T4, T5, T6, P không trả hoặc trả không đủ nợ cho Ngân hàng trong thời gian thỏa thuận hoặc khi Bản án có hiệu lực thi thành, Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành thi hành án để thanh toán nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số TD 3244/HĐTC ngày 16 tháng 3 năm 2011 cho Ngân hàng xử lý, thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, đại diện Ngân hàng xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn trả dư nợ gốc là 10.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 15 tháng 4 năm 2024 là: lãi trong hạn: 2.962.667 đồng, lãi phạt quá hạn là 115.005.000 đồng. Ngân hàng tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt chậm trả lãi, không yêu cầu bị đơn trả số tiền này.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
- Ông Phạm Đông X đại diện cho nguyên đơn trình bày: Ngân hàng xác định Ngân hàng khởi kiện các ông, bà: Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P. Yêu cầu các ông, bà này trả số tiền tổng cộng là: 128.462.667 đồng, bao gồm: nợ gốc là 10.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 2.962.667 đồng, tiền lãi quá hạn là
5
115.500.000 đồng (tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2024); không yêu cầu các ông, bà này trả tiền phạt chậm trả lãi. Nếu các ông, bà này không trả được nợ thì phải xử lý tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.
- Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng nhiều lần vắng mặt không có lý do, không tham gia các phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Hợp đồng tín dụng có chữ ký của ông N, bà Q và bà bà Q đã nhận số tiền vay theo giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 16 tháng 3 năm 2011. Các bên giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật, nội dung đã thỏa thuận quyền và nghĩa vụ của các bên, số tiền, mục đích và thời hạn vay, phương thức, cam kết trả nợ ... phù hợp quy định của pháp luật. Do đó, giao kết hợp đồng giữa các bên có giá trị pháp lý vì ông N, bà Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện đúng như nội dung thỏa thuận nên ông N, bà Q phải thực hiện nghĩa vụ trả vốn gốc, lãi chưa thanh toán cho Ngân hàng. Bà Q đã chết và có những người thừa kế bao gồm ông N và các con là T2, T3, T5, T6, P, T4, nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với các bị đơn là có căn cứ chấp nhận. Ngân hàng tự nguyện rút một phần yêu cầu đối với tiền phạt chậm trả lãi do đây là quyền, quyết định và tự định đoạt của đương sự không vi phạm điều cấm của pháp luật cũng như phù hợp theo Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên có cở sở xem xét chấp nhận. Đối với tài sản thế chấp, các bị đơn không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết. Tuy nhiên, ông N, bà Q chỉ thế chấp quyền sử dụng đất. Hiện nay trên đất còn có những vật kiến trúc khác bao gồm các căn nhà và phần mộ cho nên cần thiết áp dụng tương tư pháp luật theo Án lệ số 11/2017/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là phải dành cho chủ sở hữu nhà, những người sinh sống trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu khi thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn, lãi theo hợp đồng tín dụng. Bị đơn không có đăng ký kinh doanh, vay tiền với mục đích tiêu dùng và làm kinh tế phụ, có thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ; nên Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp”. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố L, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
[1.2] Ngày 11 tháng 10 năm 2023, Ngân hàng K khởi kiện ông Trần Văn N và bà Bùi Thị Q. Quá trình giải quyết vụ án xác định được bà Bùi Thị Q đã chết ngày 13 tháng 12 năm 2011, trước thời điểm Ngân hàng K khởi kiện. Đến ngày 01 tháng 3 năm 2024, Ngân hàng có đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung xác định khởi kiện ông N và những người thuộc hàng thừa kế của bà Q gồm các ông, bà: Nhục, T2, T3, T4, T5, T6, P. Vì vậy, Tòa án xác định bị đơn trong vụ án là các ông, bà N, T2, T3, T4, T5, T6, P là đúng quy định tại khoản 3 Điều 68, Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Hợp đồng tín dụng số 3244/HĐTD ngày 16 tháng 3 năm 2011 được ông Trần Văn N, bà Bùi Thị Q và Ngân hàng K giao kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các bên đã tự nguyện thực hiện hợp đồng được một thời gian thì bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận giao kết. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng K nên yêu cầu trả nợ vốn và yêu cầu tính lãi trong hạn, lãi quá hạn của Ngân hàng là có căn cứ.
[2.2] Bà Q đã chết vào năm 2011. Theo lời khai của bị đơn bà Trần Thị Châu P và kết quả xác minh của Tòa án thì xác định được những người thuộc hàng thừa kế của bà Q là: Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P. Những người này được thừa kế tài sản của bà Q và đều không có ý kiến hay văn bản từ chối nhận di sản của bà Q chết để lại, cũng như không có thỏa thuận khác. Vì vậy, các ông, bà N, T2, T3, T4, T5, T6, P có các quyền, nghĩa vụ về tài sản do bà Q chết để lại theo quy định tại Điều 614 và Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại. Vì vậy, việc Ngân hàng K khởi kiện yêu cầu các ông, bà N, T2, T3, T4, T5, T6, P cùng liên đới trả nợ là phù hợp với quy định pháp luật.
7
[2.3] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng K: Buộc ông N và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Q gồm các ông, bà N, T2, T3, T4, T5, T6, P có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30 tháng 5 năm 2023) là: 10.000.000 đồng nợ gốc, 2.962.667 đồng lãi trong hạn, 115.500.000 đồng lãi quá hạn; tổng cộng là: 128.462.667 đồng.
[2.4] Trách nhiệm trả nợ cụ thể của các bị đơn như sau: Ông N có trách nhiệm liên đới của vợ, chồng với bà Q, nên ông N phải có trách nhiệm đối với ½ khoản nợ nêu trên, ½ khoản nợ còn lại là nghĩa vụ của bà Q thì các đồng thừa kế của bà Q gồm các ông, bà N, T2, T3, T4, T5, T6, P có trách nhiệm liên đới trả.
[2.5] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, các các ông, bà N, T2, T3, T4, T5, T6, P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 3244/HĐTD ngày 16 tháng 3 năm 2011 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
[2.6] Đối với yêu cầu về việc trả số tiền phạt chậm trả lãi, Ngân hàng K xác định đã tự nguyện rút lại yêu cầu này, không yêu cầu các bị đơn phải trả số tiền phạt chậm trả lãi. Vì vậy, cần đình chỉ xét xử giải quyết đối với phần yêu cầu này của nguyên đơn.
[2.7] Đối với việc thế chấp tài sản:
[2.7.1] Để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà Q và ông N đã xác lập Hợp đồng thế chấp số TD 3244/HĐTC ngày 16 tháng 3 năm 2011 để thế chấp tài sản cho Ngân hàng K. Hợp đồng này được các bên tự nguyện xác lập, có chứng nhận của Văn phòng công chứng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Qua quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ xác định thửa đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 56, diện tích 387,6m²; tọa lạc: Xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, hiện nay do các bị đơn đang quản lý, sử dụng. Các tài sản gắn liền trên đất đều do bà Q, ông N xây dựng và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, các mồ mã trên đất đều do ông N quản lý. Tại khoản 1 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp số TD 3244/HĐTC, các bên đã thỏa thuận “Bên A (bên thế chấp) đồng ý thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với Bên B (bên nhận thế chấp)”. Do đó, trường hợp các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản đã thế chấp sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành án và thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp đã ký kết.
[2.7.2] Các tài sản gắn liền trên đất do bà Q, ông N xây dựng và quản lý, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu và được các con của ông N sử dụng để làm nơi sinh sống cùng gia đình. Vì vậy, cần áp dụng Án lệ số 11/2017/AL (được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2017 và được Công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao) để dành cho ông N và các bị đơn được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu nhận chuyển nhượng tài sản thế chấp.
8
[3] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, chi phí tố tụng là 400.000 đồng, do Ngân hàng K tạm ứng chi trả. Vì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, các bị đơn phải chịu chi phí tố tụng, nên các bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả số tiền Ngân hàng K đã tạm ứng chỉ.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng K không phải chịu tiền án phí sơ thẩm. Các ông, bà N, T2, T3, T4, T5, T6, P phải chịu tiền án phí sơ thẩm đối với nghĩa vụ các ông, bà phải thực hiện. Ông N tuy là người cao tuổi, nhưng không có đơn xin miễn nộp án phí nên vẫn phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157, 227, 244, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Các Điều 299, 463, 466, 470, 614 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
- - Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K đối với các ông, bà Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P về việc trả số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn;
- Buộc ông Trần Văn N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K (do Ngân hàng thương mại cổ phần K Chi nhánh A1 đại diện) nhận số tiền tổng cộng vốn, lãi tạm tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2024 tổng cộng là: 64.231.333 đồng (sáu mươi bốn triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó: tiền nợ gốc là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 1.481.333 (một triệu bốn trăm tám mươi mốt nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), tiền lãi quá hạn là 57.750.000 đồng (năm mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Buộc các ông, bà Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K (do Ngân hàng thương mại cổ phần K Chi nhánh A1 đại diện) nhận số tiền tổng cộng vốn, lãi tạm tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2024 tổng cộng là: 64.231.333 đồng (sáu mươi bốn triệu hai trăm ba
9
mươi mốt nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó: tiền nợ gốc là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 1.481.333 (một triệu bốn trăm tám mươi mốt nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), tiền lãi quá hạn là 57.750.000 đồng (năm mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30 tháng 5 năm 2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 3244/HĐTD ngày 16 tháng 3 năm 2011. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng thương mại cổ phần K có đơn yêu cầu thi hành án mà các ông, bà Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nêu trên thì tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 56, diện tích 387,6m²; tọa lạc tại: Xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn 387,6m²; thời hạn sử dụng: Đất ở tại nông thôn lâu dài; Nguồn gốc sử dụng: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: H.01378kA do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007 cho ông Trần Văn N và bà Bùi Thị Q,
Được xử lý theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành án.
Các ông, bà Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng lại phần diện tích đất gắn liền với căn nhà của các ông bà đang sinh sống tại giai đoạn thi hành án.
3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K về việc yêu cầu các ông, bà Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P trả số tiền phạt chậm trả lãi tính trên số tiền nợ gốc chưa trả.
4. Về chi phí tố tụng:
Các ông, bà Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P phải chịu chi phí tố tụng; nên các ông, bà Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ngân hàng thương mại cổ phần K (do Ngân hàng thương mại cổ phần K Chi nhánh A1 đại diện) được nhận lại 3.454.246 đồng (ba triệu bốn trăm năm mươi
10
bốn nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001175 ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
- Ông Trần Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.211.567 đồng (ba triệu hai trăm mười một nghìn năm trăm sáu mươi bảy đồng).
- Các ông, bà Trần Văn N, Trần Thanh T2, Trần Thanh T3, Trần Thị Thanh T4, Trần Thanh T5, Trần Thị Thanh T6, Trần Thị Châu P có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.211.567 đồng (ba triệu hai trăm mười một nghìn năm trăm sáu mươi bảy đồng).
6. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thùy Giang |
11
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Nguyễn Thùy Giang |
Bản án số 183/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
- Số bản án: 183/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
