Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HS-ST

Ngày: 15-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Miện

Bà Đỗ Thị Thu Hương

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hoàng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 201/TLST-HS ngày 04/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Chí C, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1993 tại Lâm Đồng; nơi thường trú: TDP T, thị trấn N, huyện L, Lâm Đồng; Nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu H, sinh năm: 1974, nơi thường trú: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ Lê Thị H1, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2015; chưa có; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 78/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt từ ngày 11/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn C1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979 tại Hà Nội; nơi thường trú: tổ C, phường N, thành phố K, tỉnh Kon Tum; tạm trú: TDP T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1943, nơi cư trú: TDP T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có vợ Lê Thị V, sinh năm 1979 và 03 con (lớn nhất sinh năm sinh 1999, nhỏ nhất sinh năm 2016), nơi cư trú: tổ C, phường N, thành phố K, tỉnh Kon Tum; chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt từ ngày 11/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn H2, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1999 tại Lâm Đồng; nơi thường trú: tổ C, phường N, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1979, nơi cư trú: đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ và bà Lê Thị V, sinh năm 1979, nơi cư trú: tổ C, phường N, thành phố K, tỉnh Kon Tum; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: ngày 28/3/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, Lâm Đồng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Bị cáo bị bắt từ ngày 31/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Anh Trần Đình Anh Đ1, sinh năm: 1994, nơi cư trú: đường H, phường T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
  2. Bà Lê Thị P, sinh năm: 1979, trú tại: số C đường N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị Hoài N1, sinh năm: 1987, trú tại: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Hữu P1, sinh năm: 1989, trú tại: TDP T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  2. Chị Lê Nguyễn Thục N2, sinh năm: 2006, trú tại: số C đường N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  3. Chị Lê Thị H1, sinh năm: 1995, trú tại: xóm A, thôn I, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9/2023, Nguyễn Chí C rủ Nguyễn Văn C1 (cậu của C) và Nguyễn Văn H2 (con của C1) thực hiện hành vi cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài thì C1 và H2 đồng ý. Nguyễn Chí C, Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Văn H2 đã thực hiện những lần cướp giật tài sản tại thành phố Đ và huyện Đ, Lâm Đồng như sau:

Lần 1: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 20/10/2023, C sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria màu đỏ đen trắng, biển số 49D1 - 714.07 chở H2 chạy đến khu vực đèo T thì dừng lại và tháo biển số xe cất vào cốp để tránh bị phát hiện. Sau đó H2 điều khiển xe chở C ngồi sau, chạy đến trước nhà số G đường T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (hướng từ vòng xoay K về Đài truyền hình L) thì C phát hiện anh Trần Đình Anh Đ1 và vợ là Phạm Thị H3 đang đi bộ trên vỉa hè, anh Đ1 đi bên ngoài sát với lòng đường và có cầm 01 túi xách màu trắng trên tay trái. Khi H2 điều khiển xe chạy vượt qua anh Đ1 thì C nói H2 điều khiển xe quay lại áp sát phía sau anh Đ1, C dùng tay phải giật túi xách, còn H2 điều khiển xe chở C chạy về hướng Đài truyền hình L. Tại đây, C mở túi xách ra kiểm tra thấy có 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ; 01 đôi bông tai màu vàng; 01 hộp đựng 02 tai nghe màu trắng; 01 căn cước công dân, 01 thẻ ATM, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Phạm Thị H3, 01 ví kẻ caro. C lấy 500.000đ; 01 đôi bông tai màu vàng; 01 hộp đựng 02 tai nghe màu trắng, những đồ vật còn lại C cho vào trong túi xách và vứt vào trong thùng rác bên đường. Số tiền 500.000đ, C và H2 đã tiêu xài hết, còn đôi bông tai C cho vợ cũ là Lê Thị H1 nhưng H1 không lấy nên C đã bỏ lại tại nhà H1, sau đó H1 đã giao nộp lại cơ quan Công an. Còn hộp tai nghe thì C đem về nhà sử dụng và đã làm mất, chỉ còn lại 02 chiếc tai nghe.

Tại Kết luận giám định số 468/KL-KTHS ngày 22/04/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 01 (một) đội bông tai gồm: 01 chiếc bằng kim loại đồng, hàm lượng trung bình 92,11%, trên có đính hạt màu trắng, khối lượng 2,97g; 01 chiếc bằng kim loại đồng, hàm lượng trung bình 92,74%, trên có đính hạt màu trắng, khối lượng 2,70g.

Tại Kết luận định giá tài sản số 94/KL-HĐĐGTS ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 01 (một) giỏ xách chất liệu da màu trắng, 01 (một) ví kẻ ca rô chất liệu vải màu nâu đen, 01 (một) đôi bông tai màu vàng có đính hạt màu trắng là kim loại đồng, 01 hộp đựng 02 tai nghe bluetooth màu trắng tại thời điểm ngày 20/10/2023 không còn giá trị mua bán; Đối với 01 (một) nhẫn bằng vàng 9999, bên trong có chữ PH do không thu được tang vật, bị hại không cung cấp được hóa đơn mua nên không có cơ sở định giá.

Vật chứng vụ án: 01 (một) giỏ xách chất liệu da màu trắng, kích thước 18x25cm, giỏ xách có 02 quai có nút kim loại màu vàng; 01 (một) ví chất liệu vải sọc kẻ ca rô màu nâu đen, kích thước 07x10cm; 01 (một) căn cước công dân, 01 thẻ ATM; 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Phạm Thị H3; 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, trên có đính hạt màu trắng; 02 (hai) tai nghe bluetooth màu trắng, không rõ nhãn hiệu.

Bị hại anh Trần Đình A Đ1 trình bày: anh đã nhận lại 01 đôi bông tai màu vàng có đính hạt màu trắng, 02 tai nghe bluetooth màu trắng. Đối với các tài sản khác bị chiếm đoạt thì bị cáo C đã bồi thường số tiền 6.100.000đ nên ông không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Lê Thị H1 trình bày: Nguyễn Chí C là chồng của bà nhưng đã ly hôn, C có đến tặng bà 01 đôi bông tai nhưng bà không nhận nên C để lại trên bàn. Đến ngày 11/11/2023, cơ quan Công an thông báo yêu cầu bà giao nộp đôi bông tai trên và bà đã nộp cho cơ quan Công an.

Lần 2: Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 09/11/2023, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria màu đỏ đen trắng, biến số 49D1 - 714.07 chở C1 đi từ L lên thành phố Đ. Khi đến đèo T thuộc khu vực V, Phường E, thành phố Đ, C dừng xe tháo biển số cất vào cốp. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, C và C1 đi đến gần Trường Cao đẳng Y, theo hướng về Nhà T đường N, Phường F, thành phố Đ thì phát hiện chị Lê Nguyễn Thục N2 điều khiển xe mô tô chở bà Lê Thị P đang cầm 02 máy tính bảng hiệu S A7 Lite màu xám đen (một cái có ốp da màu đen, một cái có ốp trong). Thấy vậy, C1 vỗ đùi C chỉ về phía chị N2 và bà P thì C hiểu ý nên điều khiển xe áp sát xe chị N2, lúc này C1 dùng tay phải giật lấy 02 máy tính bảng của bà P rồi vỗ đùi C ra hiệu. C biết C1 đã giật được tài sản nên điều khiển xe chạy về huyện L. Khi đến huyện L, C1 đưa cho C một chiếc máy tính bảng, C1 giữ một chiếc máy tính bảng để sử dụng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 94/KL-HĐĐGTS ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 02 (hai) máy tính bảng nhãn hiệu S Galaxy Tab A7 lite màu xám tại thời điểm ngày 09/11/2023 giá trị còn lại 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng)/01 máy, 02 (hai) ốp kèm theo không còn giá trị mua bán.

Vật chứng vụ án: 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu S A7 lite màu xám có ốp da màu đen; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu S A7 lite màu xám có ốp trong suốt.

Bị hại bà Lê Thị P: xác định đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì thêm.

Lần 3: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10/11/2023, C rủ C1 ra thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tìm tài sản sơ hở để cướp giật thì C1 đồng ý. C điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Satria màu đỏ đen trắng, biển số 49D1 - 714.07 chở C1, khi qua khỏi ngã ba cửa rừng khoảng 100m thì rẽ vào hẻm bên phải đường rồi dừng lại tháo biển số xe bỏ vào cốp. C chở C1 đến thị trấn L rồi đi theo hướng đường Quốc lộ 20 về ngã ba L, khi đến khu vực trước karaoke P, thị trấn L, Đức T1 thì C thấy chị Nguyễn Thị Hoài N1 điều khiển xe tay ga chở theo con nhỏ đang chạy cùng chiều ở phía trước, C chạy đến gần thì thấy túi áo bên trái của chị N1 có để 01 điện thoại di động màu đen. C tăng ga chạy xe áp sát bên trái chị N1 rồi dùng tay phải của mình lấy chiếc điện thoại trong túi áo của chị N1, sau đó tăng ga bỏ chạy hướng theo hướng thành phố Đ. Khi đến đoạn đường vắng, C dừng xe tháo sim điện thoại vứt đi, do điện thoại có khóa màn hình nên C chở C1 đến tiệm Đ2 đường C, Phường A, thành phố Đ để mở khóa điện thoại. Khi C và C1 đang mở khóa điện thoại thì bị Công an thành phố Đ phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tại Kết luận định giá tài sản số 121/KL-HĐĐG ngày 07/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu LG G8X THINQ màu đen tại thời điểm ngày 10/11/2023 giá trị còn lại là 1.875.000đ.

Vật chứng vụ án: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu LG G8X THINQ màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ASUS-X00TD màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ.

Bị hại chị Nguyễn Thị Hoài N1 xác định đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Hữu P1 trình bày: ông là chủ sở hữu xe mô tô hiệu Suzuki Satria màu đỏ đen trắng, biển số 49D1-714.07. C là cháu của ông có mượn xe mô tô trên để đi làm, ông không biết C sử dụng xe này vào việc phạm tội và cơ quan Công an đã trả lại xe mô tô cho ông.

Tại Bản Cáo trạng số 206/CT-VKSÐL-LĐ ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố các bị cáo Nguyễn Chí C, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn H2 về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận dùng xe mô tô hiệu Suzuki Satria màu đỏ đen trắng, biển số 49D1-714.07 để đi cướp giật tài sản. Tổng giá trị tài sản bị cáo C thực hiện cướp giật cùng bị cáo H2 và bị cáo C1 là 7.375.000.000đ; tổng giá trị tài sản bị cáo C1 thực hiện cùng bị cáo C chiếm đoạt là 6.875.000đ; tổng giá trị tài sản bị cáo H2 thực hiện cùng bị cáo C1 chiếm đoạt 500.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo Nguyễn Chí C, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn H2 phạm tội “Cướp giật tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí C: Từ 5 đến 6 năm tù.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C1: Từ 4 đến 5 năm tù.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H2 từ 3 đến 4 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả cho bị cáo C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ASUS-X00TD màu xanh; trả cho bị cáo C1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản tạm giữ tang vật, vật chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/10/2023, tại đường T, Phường A, thành phố Đ, bị cáo C cùng bị cáo H2 sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria màu đỏ đen trắng, biển số 49D1 - 714.07 áp sát và giật túi xách của anh Đ1, bên trong túi xác có giấy tờ cá nhân, 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ và một số tài sản nhưng không còn giá trị mua bán; ngày 09/11/2023 tại đường N, Phường F, thành phố Đ, bị cáo C cùng bị cáo C1 sử dụng xe mô tô đi cướp giật 02 máy tính bảng trị giá 5.000.000₫ của bà P; khoảng 15giờ 30 phút ngày 10/11/2023, bị cáo C cùng bị cáo C1 tiếp tục sử dụng xe mô tô đi cướp giật điện thoại di động nhãn hiệu LG G8X THINQ màu đen trị giá 1.875.000đ của chị N1 rồi nhanh chóng tăng ga để tẩu thoát. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo C thực hiện cùng bị cáo H2 và bị cáo C1 chiếm đoạt là 7.375.000.000đ, tổng giá trị tài sản bị cáo C1 thực hiện cùng bị cáo C chiếm đoạt là 6.875.000đ; tổng giá trị tài sản bị cáo H2 thực hiện cùng bị cáo C1 chiếm đoạt 500.000đ. Khi các bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản đã sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội là dùng thủ đoạn nguy hiểm. Hành vi của các bị cáo phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo như nội dung cáo trạng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Đánh giá tính chất hành vi và mức độ phạm tội của các bị cáo cho thấy:

Các bị cáo là thanh niên có sức khỏe, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nhưng không chịu lao động chân chính mà cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, bằng thủ đoạn nguy hiểm dùng xe mô tô để cướp tài sản nhằm nhanh chóng có được thu nhập bất chính. Hành vi cướp giật của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật và có khả năng gây nguy hiểm sức khỏe và tính mạng của người khác, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương.

Trong vụ án này có nhiều bị cáo tham gia, bị cáo C là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo các bị cáo C1, H2 thực hiện hành vi phạm tội và cũng là người trực tiếp điều khiển xe mô tô chở các bị cáo giật tài sản, đồng thời bị cáo C trực tiếp thực hiện hành vi giật tài sản của anh Đ1 và chị N1. Bị cáo C có nhân thân xấu, từng bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, bị cáo C phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

Các bị cáo C1, H2 đồng phạm với bị cáo C. Bị cáo C1 là người trực tiếp giật máy tính bảng của bà P, bị cáo H2 trực tiếp điều khiển xe mô tô và áp sát để bị cáo C giật túi xách của anh Đ1. Bị cáo C1 và bị cáo H2 hưởng lợi từ việc chiếm đoạt tài sản cùng với bị cáo C. Đối với bị cáo Chính phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên mức án của bị cáo C1 cao hơn bị cáo H2.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo C đã bồi thường thiệt hại và được bị hại anh Trần Đình Anh Đ1 xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tù nghiêm khắc trong khung hình phạt, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Quá trình điều tra, anh Trần Đình Anh Đ1 trình bày, trong túi xách còn có 01 nhẫn trơn vàng 9999, trọng lượng 01 chỉ, bên trong có chữ PH để trong ví kẻ caro. Tuy nhiên, đối với chiếc nhẫn này các bị cáo C, H2 không thừa nhận, anh Đ1 lại không cung cấp được hóa đơn mua nhẫn và cũng không có tài liệu, chứng cứ khác, do vậy không đủ cơ sở xác định các bị cáo C, H2 đã chiếm đoạt chiếc nhẫn vàng trên nên không có cơ sở xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này, ngoài hình phạt chính, pháp luật còn quy định hình phạt bổ sung nhưng do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, việc làm không ổn định nên miễm áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.

[5] Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự: Tài sản được thu hồi đã hoàn trả cho các bị hại, bị cáo C đã bồi thường thiệt hại cho bị hại là anh Đ1. Các bị hại không có yêu cầu gì thêm đối với các bị cáo nên không xem xét.

[6] Xử lý vật chứng: 02 (một) điện thoại di động. Đây là tài sản cá nhân nên hoàn trả 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ASUS-X00TD màu xanh cho bị cáo C, hoàn trả 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ cho bị cáo C1.

[7] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Chí C, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn H2 phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

1.1 Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí C 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2023

1.2 Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C1 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2023

1.3 Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H2 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Hoàn trả: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ASUS-X00TD màu xanh cho bị cáo Nguyễn Chí C; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ cho bị cáo Nguyễn Văn C1. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2024 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Chí C, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng các bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tp Đà Lạt;
  • - Chi cục THADS tp. Đà Lạt;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - Công an tp. Đà Lạt;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - NCQLNVLQ
  • - Lưu AV - HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thanh Thủy

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 183/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger