|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 183/2024/DS-ST Ngày: 26 - 8 - 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bạn và bà Nguyễn Thị Liên
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Y Kăn Niê - Thư ký Tòa án thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh- Kiểm sát viên
Vào ngày 26 tháng 7 năm 2024 và ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 829/2023/TLST-DS ngày 15/12/2023, về việc “Kiện tranh chấp hợp đồng vay”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXX-DS ngày 21/6/2024, giữa:
* Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Minh T, sinh năm 1964. (Có mặt)
Địa chỉ: Số I, thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị đơn: Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1963. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đ: Bà Hoàng Thị Thanh T1 - Luật sư, Thuộc Văn Phòng L - Đoàn Luật sư Tỉnh Đ.
Địa chỉ: 8 G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Thế H.
Địa chỉ: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (Đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ông Nguyễn Quang C.
Địa chỉ: Số I, thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Bà Phạm Thị H1.
Địa chỉ: B H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.(Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thu H2.
Địa chỉ: Số nhà C, Thôn G, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn N.
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện C, Đắk nông. (Đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị B.
Địa chỉ: Thôn A, xã H, TP ., tỉnh Đắk Lắk.(Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Công T2.
Địa chỉ: Số I, thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H2.
Địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đặng Thị Minh T trình bày:
Ngày 07/4/2018, bà Vũ Thị Đ đã vay của tôi số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), với lãi suất ghi trong giấy vay là 02%/tháng nhưng hai bên thỏa chỉ thuận với nhau là 1,2%/1 tháng, thời hạn vay 03 tháng. Trong giấy vay ghi tên ông Trần Văn T3 là con trai bà Đ nhưng ông T3 không tham gia vay và tôi không cho ông T3 vay tiền. Tôi đã giao tiền cho bà Đ và bà Đ đã nhận tiền. Bà Đ cho rằng tôi dẫn bà Đ lên nhà bà Phạm Thị H1 để vay tiền từ bà H1 là không đúng. Việc tôi vay tiền của bà H1 số tiền 150.000.000đồng để làm việc riêng của tôi chứ không phải cho bà Đ vay lại, việc tôi vay tiền của bà H1 thì bà H1 đã kiện tôi và tôi đã trả cho bà H1 số tiền này. Khi vay tiền bà Đ có thế chấp cho tôi 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc số BE 010867, thửa đất số 433, tờ 23, diện tích 2210m², tại Thôn A, xã H, thành phố B mang tên bà Vũ Thị Đ và ông Phạm Thế H, việc thế chấp này không công chứng, chứng thực.
Ngày 18/7/2019, bà Vũ Thị Đ mượn tiếp tôi số tiền 17.000.000đồng (Mười bảy triệu đồng) để về Bắc làm giấy xác nhận đổi chứng minh nhân dân cho ông Phạm Thế H là chồng bà Đ. Tôi đã giao tiền cho bà Đ đầy đủ, hẹn tháng nữa trả nhưng thực chất các bên thoả thuận khi nào làm xong chứng minh nhân dân sẽ trả, trong giấy vay không thỏa thuận lãi suất. Đến nay, ông H đã làm xong chứng minh nhân dân nhưng bà Đ cũng không trả tiền cho tôi.
Ngày 09/01/2022, bà Vũ Thị Đ lấy lại sổ đỏ trên đưa cho ông Nguyễn Văn N giữ để nhờ ông N đi làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đúng vị trí. Hiện nay, ông N cũng chưa làm xong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hiện nay tôi không giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên nữa. Khi bà Đ trả tiền cho tôi thì tôi không có nghĩa vụ gì đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên nữa mà giữa bà Đ và ông N có trách nhiệm với nhau, tôi không liên quan gì nữa.
Tôi đã nhiều lần yêu cầu bà Đ trả tiền cho tôi nhưng bà Đ không chịu trả. Vì vậy, tôi làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án xem xét, giải quyết buộc bà Đ phải trả lại cho tôi số tiền gốc cả hai lần vay là 167.000.000 đồng, cộng với số tiền lãi suất phát sinh tính đến ngày 18/7/2023 là 123.852.000đồng và bà Đ phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật cho đến khi trả xong nợ.
Tại phiên tòa hôm nay tôi xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, tôi chỉ đề nghị bà Vũ Thị Đ trả cho tôi số tiền gốc 167.000.000đồng còn lãi suất thì tôi không yêu cầu bà Đ trả.
Thời hạn trả: Chậm nhất đến hết ngày 10/10/2024 bà Đ phải trả số tiền trên cho tôi. Nếu bà Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì tôi có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đối với toàn bộ số nợ trên và tính lãi suất chậm thi hành án.
2. Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Vũ Thị Đ trình bày:
Tôi và bà Đặng Thị Minh T không có quen biết nhau, bà T nói tôi góp tiền vào tại Công ty S với số tiền 150.000.000đồng thì lãi suất hàng tháng tôi nhận được khoảng 25.000.000đ/1ngàn đô la nên tôi đồng ý.
Vào ngày 07/4/2018, tôi cùng bà T lên nhà bà Phạm Thị H1 để vay tiền nhưng bà H1 không quen tôi nên bà H1 không cho tôi vay tiền mà giao tiền cho bà T. Bà T nói tôi viết giấy vay tiền nhưng không giao tiền cho tôi mà bà Thảo c số tiền này để đưa đi đầu tư vào Công ty S cho tôi. Sau khi góp tiền thì tôi có nhận được bản hợp đồng của Công ty S do con trai bà T đưa cho tôi. Hiện nay tôi cũng chưa nhận được khoản tiền lợi nhuận nào từ Công ty S thì nghe nói công ty vỡ nợ nên tôi cũng chưa đòi lại được tiền từ công ty S.
Ngày 18/7/2019, tôi ký giấy vay 17.000.000 đồng của bà T để bà T đi đổi chứng minh nhân cho chồng tôi là ông Phạm Thế H. Sau đó bà T cũng không làm được giấy chứng minh cho ông H, tôi không nhận được số tiền này từ bà T. Trong giấy vay ghi 01 tháng nhưng các bên thoả thuận khi nào làm điều chỉnh được chứng minh nhân dân mới trả tiền chứ không phải là 01 tháng. Hiện nay bà T khởi kiện tôi phải trả số tiền gốc 167.000.000đồng và lãi suất phát sinh thì tôi không đồng ý.
Về tài sản tôi đưa cho bà T giữ: Khi vay tiền tôi có đưa cho bà T cầm 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 010867, thửa đất số 433, tờ 23, diện tích 2210m², tại Thôn A, xã H, thành phố B mang tên bà Vũ Thị Đ, ông Phạm Thế H bản gốc. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên sai vị trí cấp đất nên tôi có nhờ ông Nguyễn Văn N đi làm dùm thủ tục cấp đổi. Ngày 09/01/2022, tôi và bà T thống nhất đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông Nguyễn Văn N giữ để ông N đi làm thủ tục cấp đổi. Hiện nay ông N cũng chưa làm xong thủ tục nên hiện nay bà T không giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên nữa.
Tại phiên tòa bà Vũ Thị Đ trình bày: Trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa trước đây tôi không đồng ý trả tiền cho bà T nhưng tại phiên tòa hôm nay tôi chấp nhận trả tổng số tiền gốc cho bà T là 167.000.000 đồng, về lãi suất thì tôi xin bà T không tính lãi suất. Về thời hạn trả: Tôi xin bà T chậm nhất đến hết ngày 10/10/2024 tôi sẽ trả số tiền trên cho bà T.
Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 010867, thửa đất số 433, tờ 23, diện tích 2210m², tại Thôn A, xã H, Tp . mang tên tôi (Vũ Thị Đ) và ông Phạm Thế H bản gốc. Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên bà T không giữ mà ông N đang giữ. Tôi và ông N tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đ trình bày trong phiên tòa ngày 26/7/2024:
Bà Phạm Thị Đ1 có ký hai giấy vay tiền với bà T nhưng thực chất bà Đ1 không được nhận tiền từ bà T và căn cứ lời khai của người làm chứng bà Phạm Thị H1 và của ông Nguyễn Văn N cũng thể hiện điều này. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự quy định về hợp đồng vay tài sản và Điều 465 Bộ luật Dân sự quy định về nghĩa vụ của bên cho vay. “Nghĩa vụ của bên cho vay giao tài sản cho bên cho vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận”. Như vậy bà Đ1 khẳng định bà T không giao tiền cho bà Đ1. Vì vậy, bà Đ1 không chấp nhận trả số tiền trên cho bà T đề nghị Tòa án bác bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
4. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
4.1 Ông Nguyễn Quang C trình bày:
Vào tháng 4/2018 bà Đ1 đến nhà tôi, vợ tôi nói cho bà Đ1 vay số tiền 150.000.000 đồng hẹn 3 tháng sau trả cả gốc và lãi. Hôm đó tôi cũng có sẵn tiền để trả tiền đất nên bà Đ1 mượn với thời gian 3 tháng, do đó tôi cũng đồng ý với vợ tôi cho mượn. Hôm đó bà Đ1 có mang sang một quyển sổ đỏ mang tên Phạm Thế H và bà Vũ Thị Đ thế chấp để làm tin. Nhưng tôi vẫn thấy áy náy nên bà Đ nói: Yên tâm đi con trai chị làm yến ngon lắm giờ chị mượn tiền về nó làm nhà yến ở nhà chị, nếu em lo thì chị nói con trai chị viết giấy bảo lãnh cho nếu chị không trả được thì con trai chị sẽ trả cho. Ngày 07/4/2018 bà Đ viết giấy vay tiền nhận tiền và có thế chấp một quyển sổ đỏ. Đến ngày 18/7/2019 bà Đ lại nói cho mượn 17.000.000 đồng để về quê xác minh chứng minh của ông H và sổ hộ khẩu, đồng thời ông H ra làm giấy ủy quyền cho bà Đ đứng quyền sử dụng đất trong sổ đỏ nhưng đến nay bà Đ không chịu trả, có ý lừa đảo không trả lại số tiền đó, vợ tôi đã làm đơn khởi kiện bà Đ. Tôi cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của vợ tôi.
4.2 Tại đơn trình bày ngày 09/7/2024 ông Phạm Thế H trình bày:
Việc bà T giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 010867 mang tên tôi và bà Đ thì tôi không biết. Nên tôi yêu cầu bà T hoặc ai đang giữ bìa đỏ trên phải trả lại cho tôi và bà Đ.
5. Người làm chứng trình bày:
5.1 Bà Phạm Thị H1 trình bày trong bản tự khai và phiên tòa ngày 26/7/2024:
Vào đầu năm 2018 bà T có dắt bà Đ đến nhà tôi nhờ tôi vay tiền cho bà Đ để làm tài chính (đầu tư vào máy đào Coin – đồng tiền ảo). Tôi không đồng ý vì trước đây bà T cũng đã lừa tôi vào chơi thời gian và tôi bị mất số tiền khá lớn. Sau đó bà T năn nỉ tôi cho bà T vay để bà T cho bà Đ vay lại. Tôi có nói với bà Đ “Em không vay để đầu tư vào chỗ T”. Rồi tôi lấy tiền của bạn tôi đưa cho hai mẹ con T vay là về. Bà T có nói ra quán cà phê rồi chị em mình làm Hợp đồng mua máy đào coi, lời nhiều lắm không cần đi làm thuê cho khổ và tôi thấy bà Đ gật đầu, rồi bà T chở bà Đ đi. Quá bốn năm bà T vay tiền của tôi nhưng không chịu trả nên tôi đã kiện bà T ra Tòa án với số tiền gốc 150 triệu đồng và tiền lãi 09%/năm, hiện nay tôi đã lấy tiền chỗ bà T xong và bản án đã khép lại còn việc bà T làm hợp đồng cho bà Đ thì tôi không rõ. Tôi nhận định rằng trường hợp bà Đ cũng bị bà T lừa, là người làm chứng tôi biết điều gì tôi khai như vậy, tôi thấy bà Đ chính là nạn nhân của mẹ con bà T. Tôi rất công bằng vì bà T là bạn bè với tôi đã hơn 30 năm qua còn bà Đ thì tôi chưa hề gặp mặt nhưng tôi phản đối bà T về việc làm vô đạo đức đi gài bẫy một người quá bất hạnh, nghèo khổ cùng cực như bà Đ thì không nên làm.
5.2. Ông Nguyễn Văn N trình bày:
Tôi được ủy quyền của bà Vũ Thị Đ làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 010867, thửa đất số 433, tờ 23, diện tích 2210m², tại Thôn A, xã H, Tp . mang tên bà Vũ Thị Đ, ông Phạm Thế H. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đang do bà T giữ nên ngày 09/01/2022, tôi có có viết giấy mượn lại sổ đỏ trên của bà Đ từ bà T để đi làm thủ tục cấp đổi lại. Hiện tại thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc nên tôi chưa làm xong. Hiện nay tôi đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Khi nào tôi làm xong thủ tục trên thì tôi sẽ giao sổ đỏ trên cho bà Đ chứ bà T không liên quan gì nữa.
5.3. Bà Nguyễn Thị Thu H2 trình bày:
Tôi có quen biết với bà Đặng Thị Minh T và bà Vũ Thị Đ, ngày 07/4/2018, bà T gọi cho tôi, nói tôi chở bà Đ đi lên phố để vay tiền, dặn tôi nhắc bà Đ mang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà T hẹn chúng tôi gặp nhau ở ngã ba H (buôn M) rồi cùng đi, tôi và bà Đ được bà T dẫn đến nhà bà Phạm Thị H1 địa chỉ B H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Hiện nay tôi được biết bà Phạm Thị H1 cũng là người làm chứng trong vụ án này). Bà T nói với tôi: “Bà không có bìa thì bà về đi. Còn bà Đ có bìa thì vào trong nhà này (nhà bà H1, địa chỉ B H)”. Tuy nhiên vì tôi là người chở bà Đ đi nên tôi không về mà vẫn đi theo bà T và bà Đ vào nhà bà H1. Tôi nghe được bà H1 nói với bà T: “Tôi không biết bà Đ mà chỉ biết bà (tức T) nên bà H1 không cho bà Đ vay tiền. Bà T đã năn nỉ bà H1 cho bà T vay số tiền 150.000.000 đồng”, bà H1 đã yêu cầu bà T viết giấy vay tiền với bà H1 và bà H1 đã giao tiền cho bà T. Sau khi bà T viết xong giấy nợ lấy xong tiền với bà H1, thì bà T quay ra yêu cầu bà Đ viết giấy nhận nợ của bà T số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Đồng thời bà T bảo bà Đ đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phạm Thế H và bà Vũ Thị Đ cho bà T giữ nhưng tôi thấy bà T không đưa tiền cho bà Đ.
5.4. Bà Nguyễn Thị H2 trình bày tại bản tự khai ngày 05/8/2024:
Tôi có thửa đất liền kề với thửa đất của bà Đ, quá trình sử dụng đất thì địa chính thông báo thửa đất của bà Đ bị cấp chồng, tôi có thương lượng với bà Đ đem sổ đỏ ra đối chứng thì bà Đ nói sổ đỏ bà T đang giữ, tôi có gọi điện cho bà T thì bà T nói tôi gọi bà Đ đến nhà bà T và bà Đ viết giấy nhận nợ. Mọi vấn đề vay tiền giữa bà Đ và bà T thì tôi không biết
5.5. Ông Nguyễn Công T2 trình bày tại bản tự khai ngày 05/8/2024:
Việc bà Đ vay tiền của mẹ tôi thì tôi hoàn toàn không biết, tôi chưa bao giờ đi cùng bà Đ và mẹ tôi lên nhà bà H1 vay tiền như lời bà H1 nói.
5.6. Bà Nguyễn Thị B trình bày tại bản tự khai ngày 05/8/2024:
Tôi có quen biết bà T và bà Đ, tôi có nghe bà Đ kể là có vay của bà T số tiền 150.000.000đồng và có đưa cho bà T giữ bìa đỏ còn việc bà Đ vay tiền để làm gì tôi không biết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tại phiên tòa các bên đương sự thỏa thuận được với nhau nên Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Minh T.
Ghi nhận sự thỏa thuận các bên đương sự: Bà Vũ Thị Đ chấp nhận trả cho bà Đặng Thị Minh T số tiền gốc là 167.000.000đồng.Thời hạn trả: Chậm nhất đến hết ngày 10/10/2024.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Minh T về lãi suất.
Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 010867, thửa đất số 433, tờ 23, diện tích 2210m², tại Thôn A, xã H, Tp . mang tên bà Vũ Thị Đ, ông Phạm Thế H hiện nay bà T không giữ mà ông N đang giữ và các bên thống nhất không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên không xem xét.
Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn phải trả số tiền đã vay, đây là “Tranh chấp hợp đồng tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Thế H có đơn đề nghị vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
[3]. Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy:
Ngày 07/4/2018 bà Vũ Thị Đ đã vay của bà Đặng Thị Minh T số tiền 150.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng. Ngày 18/7/2019, bà Vũ Thị Đ mượn tiếp của bà Đặng Thị Minh T số tiền 17.000.000đồng. Tổng cộng số tiền 167.000.000đồng nhưng đến nay bà Đ chưa trả số tiền trên cho bà T nên bà T khởi kiện bà Đ tại Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa các bên đương sự thỏa thuận được với nhau như sau:
Bà Vũ Thị Đ chấp nhận trả cho bà Đặng Thị Minh T số tiền gốc là 167.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi bảy triệu đồng).
Thời hạn trả: Chậm nhất đến hết ngày 10/10/2024.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về tài sản cầm làm tin: Khi vay tiền bà Vũ Thị Đ đưa cho bà Đặng Thị Minh T giữ làm tin 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc số BE 010867, thửa đất số 433, tờ 23, diện tích 2210m², tại Thôn A, xã H, thành phố B mang tên bà Vũ Thị Đ và ông Phạm Thế H. Các bên thống nhất ngày 09/01/2022 bà T đã giao cho ông Nguyễn Văn N giữ để đi làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ. Hiện nay bà T không giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên giữa bà Đ và ông N tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án.
Về án phí: Bà Vũ Thị Đ là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí. Hoàn trả cho bà Đặng Thị Minh T số tiền 8.117.600 đồng tiền tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004522 ngày 07/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.
Đối với tiền lãi suất: Bà Đặng Thị Minh T xin rút yêu cầu nên cần đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà T về lãi suất là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Áp dụng Điều 357, Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- - Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Minh T.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự:
Bà Vũ Thị Đ chấp nhận trả cho bà Đặng Thị Minh T số tiền gốc là 167.000.000đồng (Một trăm sáu mươi bảy triệu đồng).
Thời hạn trả: Chậm nhất đến hết ngày 10/10/2024.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Minh T, về việc yêu cầu bà Vũ Thị Đ trả tiền lãi suất.
- Về án phí Dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí. Trả lại cho bà Đặng Thị Minh T số tiền 8.117.600 đồng tiền tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004522 ngày 07/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 183/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 183/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Thảo. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự: Bà Vũ Thị Đào chấp nhận trả cho bà Đặng Thị Minh Thảo số tiền gốc là 167.000.000đồng (Một trăm sáu mươi bảy triệu đồng). Thời hạn trả: Chậm nhất đến hết ngày 10/10/2024. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. 2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Minh Thảo, về việc yêu cầu bà Vũ Thị Đào trả tiền lãi suất. 3. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị Đào là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí. Trả lại cho bà Đặng Thị Minh Thảo số tiền 8.117.600 đồng tiền tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004522 ngày 07/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
