TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 183/2024/DS-ST Ngày: 25-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Liêm;
- Ông Trương Hữu Bình.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 402/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH M. Địa chỉ: Lầu E, khối E, Tòa nhà C, số B C, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH M: Ông Dương Trung H, sinh năm 1999. Địa chỉ thường trú: Áp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ liên hệ: Tổ B, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương hoặc bà Nguyễn Hồng H1, sinh năm 2000. Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Địa chỉ liên hệ: Tổ B, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương hoặc bà Hồ Thị Thu H2, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 10/7/2024).
Bị đơn: Bà Lê Thị Phượng H3, sinh năm 1996. Địa chỉ thường trú: Áp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Đại diện nguyên đơn ông Dương Trung H có mặt, bị đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, đại diện nguyên đơn (ông Dương Trung H) trình bày:
Bà Lê Thị Phượng H3 có ký Hợp đồng tín dụng với Công ty T. Công ty TNHH M đã mua khoản nợ của khách hàng này từ Công ty T và theo đó, các nội dung chi tiết liên quan đến khoản nợ của khách hàng như sau:
- Mã số Hợp đồng tín dụng: 20171012-0009806
- Ngày ký Hợp đồng tín dụng: 12/10/2017
- Mục đích vay vốn: Mua xe máy với giá: 49.000.000đồng
- Số tiền vay: 35.700.000 đồng
- Lãi suất vay: 45%/năm
- Thời hạn vay: 24 tháng
- Số tiền đã thanh toán: 2.294.000 đồng
- Ngày thanh toán cuối cùng: 17/11/2017
- Số ngày quá hạn: 2.268 ngày
- Ngày mua nợ: 28/09/2018
- Dư nợ còn lại là: 43.047.718 đồng.
Trong đó:
Nợ gốc: 34.756.750 đồng
Nợ lãi: 8.290.968 đồng
(Chỉ tính đến hết ngày mua nợ là ngày 28/09/2018)
Từ ngày quá hạn đến nay, Công ty đã nhiều lần áp dụng các biện pháp pháp lý cần thiết để đôn đốc thu hồi nợ nhưng khách hàng vẫn không thực hiện việc thanh toán.
Vì vậy, Công ty TNHH M yêu cầu bà H3 trả nợ cho Công ty tổng số tiền tính đến ngày 28/9/2018 là 43.047.718 đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm bốn mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 34.756.750 đồng, nợ lãi: 8.290.968 đồng.
(Chỉ tính đến hết ngày mua nợ là ngày 28/09/2018).
Ngoài ra, nguyên đơn không yêu cầu gì khác.
Theo bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng, đơn xin vắng mặt, bị đơn (bà Lê Thị Phượng H3) trình bày:
Bị đơn thống nhất còn nợ của nguyên đơn tổng số tiền là 43.047.718 đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm bốn mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng), trong đó:
+ Nợ gốc: 34.756.750 đồng
+ Nợ lãi: 8.290.968 đồng.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn nên hiện nay vẫn chưa trả. Bị đơn xin được trả hàng tháng cho đến khi hết nợ.
Ngoài ra, bị đơn không có ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán,Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn đã có ý kiến và có đơn xin vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung thủ tục tố tụng.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn bà H3 xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Công ty TNHH M yêu cầu bà H3 phải thanh toán cho công ty tổng số tiền tính đến ngày 28/9/2018 là 43.047.718 đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm bốn mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 34.756.750 đồng, nợ lãi: 8.290.968 đồng. Bà H3 hiện đang cư trú tại ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng.
[3] Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn Công ty TNHH M yêu cầu bà H3 phải thanh toán cho công ty tổng số tiền tính đến ngày 28/9/2018 là 43.047.718 đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm bốn mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 34.756.750 đồng, nợ lãi: 8.290.968 đồng. Căn cứ để chứng minh là giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20171012-0009806 ngày 12/10/2017, hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-CEOO-18-0005 ngày 28/9/2018. Bị đơn bà H3 thừa nhận có vay tiền mua xe trả góp và
còn nợ lại công ty số tiền tính đến ngày 28/9/2018 là 43.047.718 đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm bốn mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng). Đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Cho đến nay bà H3 vẫn chưa thanh toán số tiền trên cho công ty là đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bà H3 phải thanh toán cho công ty tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 28/9/2018 là 43.047.718 đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm bốn mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng) là có căn cứ chấp nhận.
[4] Quan điểm về nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 5, 26, 35, 39, 92, 147, 217, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
- Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH M đối với bị đơn bà Lê Thị Phượng H3 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc bà Lê Thị Phượng H3 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH M tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 28/9/2018 là 43.047.718 đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm bốn mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 34.756.750 đồng, nợ lãi: 8.290.968 đồng.
Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Thị Phượng H3 phải chịu 2.152.386 đồng (hai triệu một trăm năm mươi hai ngàn ba trăm tám mươi sáu đồng).
Hoàn trả cho Công ty TNHH M số tiền 1.076.193 đồng (một triệu không trăm bảy mươi sáu ngàn một trăm chín mươi ba đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0000333 ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/9/2024).
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Ngọc Tuyền |
Bản án số 183/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 183/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
