Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HSST

Ngày 24/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chung và Bà Nguyễn Thị Phú.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 09 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 184/2024/HSST ngày 06 tháng 09 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 09 năm 2024, đối với:

1. Bị cáo: Vũ Tiến Đ, sinh năm 1975.

HKTT: Khu phố B, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Tiến P (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con út; Vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1982. Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Tại Bản án số 18/HSPT ngày 05/4/1995, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” quy định tại Khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 1985. Đã chấp hành xong án phí ngày 05/4/1995.
  • Tại Bản án số 85/HSST ngày 10/7/1996, Tòa án nhân dân thị xã Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự 1985. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 30/4/2000.

Tiền án:

  • Tại Bản án số 127/HSPT ngày 16/7/1996, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân” và “Trộm cắp tài sản của công dân” quy định tại Khoản 1 Điều 151 và Khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 18/HSPT ngày 05/4/1995 là 05 năm 06 tháng tù. Chưa chấp hành án phí.
  • Tại Bản án số 160/HSST ngày 26/9/2003, Tòa án nhân dân thị xã Bắc Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999, giá trị tài sản trên hai triệu đồng và chịu tình tiết tặng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 48 Bộ luật hình sự 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/1/2005. Chưa chấp hành án phí.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/05/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh B.

2. Bị cáo: Bùi Thanh T1, sinh năm 2001.

HKTT: Xóm B, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn N và bà Bùi Thị N1; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/05/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh B.

* Người bào chữa của bị cáo Bùi Thanh T1: Bà Đặng Thị H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B; Có mặt tại điểm cầu Trung tâm.

* Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Kim S – Cán bộ phụ trách tin học Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  2. Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam – Công an tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 13/5/2024, Đ đi đến khu vực Khu công nghiệp Q, đoạn G, phường G, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh gặp một người đàn ông không quen biết, hỏi mua ma túy loại Heroine, người đàn ông đồng ý và đưa cho Đ lọ nhựa có chữ VITAMIN B1 chứa 13 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Sau đó, Đ mang về nhà cất tại tủ quần áo trong phòng mình, nhằm mục đích xem ai hỏi mua sẽ bán để hưởng tiền chênh lệch. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 14/5/2024, Đ gói 03 gói giấy bạc chứa ma túy trong 02 gói giấy màu vàng, đi bộ ra khu phố B, phường P, thị xã Q, gặp một người thanh niên không quen biết, sau này biết tên là Bùi Thanh T1, T1 hỏi mua của Đ 600.000 đồng ma túy loại Heroine và Đ đồng ý. Thích đưa cho Đ 600.000 đồng gồm 1 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 01 một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, Đ cầm tiền đút vào túi quần phía trước bên trái của mình, đồng thời lấy từ trong túi quần ra 02 gói giấy vàng bên trong có 03 gói giấy bạc đưa cho T1. Biết là ma túy cần mua nên T1 cầm đút vào túi quần phía trước bên trái rồi quay về. Đúng lúc này, Đ và T1 bị lực lượng Công an kiểm tra và thu giữ vật chứng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ, thu giữ tại tủ quần áo 01 lọ nhựa màu trắng có chữ VITAMIN B1 bên trong chứa 10 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng được niêm phong vào một phong bì thư ký hiệu M.

Vật chứng thu giữ:

  • Thu giữ tại túi quần bên trái của T1 02 gói giấy màu vàng, bên trong 01 gói giấy màu vàng chứa 02 gói giấy bạc màu trắng, còn 01 gói giấy màu vàng chứa 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong các gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng.
  • Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Đ 600.000 đồng.
  • Thu giữ tại tủ quần áo 01 lọ nhựa màu trắng có chữ VITAMIN B1 bên trong chứa 10 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng được niêm phong vào một phong bì thư ký hiệu M.

Tại bản Kết luận giám định số 1191/KL-KTHS ngày 16/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“+ Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư không có ký hiệu gửi giám định có khối lượng là 0,1285 gam, Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (Heroin);

+ Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M gửi giám định có khối lượng là 0,3042 gam, Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H).”

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Vũ Tiến Đ và Bùi Thanh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 139/CT-VKSQV ngày 06/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Vũ Tiến Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm q, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự; Bùi Thanh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Vũ Tiến Đ và Bùi Thanh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Vũ Tiến Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Bùi Thanh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Tiến Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Bùi Thanh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị:

- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Vũ Tiến Đ từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 14/05/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bùi Thanh T1 từ 13 tháng đến 15 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 14/05/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 600.000 đồng.

Bị cáo Vũ Tiến ĐBùi Thanh T1 nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.

Người bào chữa của bị cáo Bùi Thanh T1 không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Tiến ĐBùi Thanh T1 tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Hồi 13 giờ 10 phút ngày 14/5/2024, tại khu phố B, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Công an phường P, thị xã Q bắt quả tang Vũ Tiến Đ bán trái phép 0,1285 gam ma túy loại Heroine cho Bùi Thanh T1 lấy số tiền 600.000 đồng. Ngoài ra thu giữ tại nhà riêng của Đ 0,3042 gam ma túy Heroine được cất giấu để bán. Như vậy, khối lượng ma túy mà Đ dùng để bán hưởng tiền chênh lệch là: 0,4327 gam. Khối lượng ma túy Thích mua để sử dụng cho bản thân là: 0,1285 gam. Bị cáo Vũ Tiến Đ có bản án chưa được xoá án tích nên lần thực hiện tội phạm nay là “tái phạm nguy hiểm”, đây là tình tiết định khung của điều luật. Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Vũ Tiến Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và Bùi Thanh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, các bị cáo đã có hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thị xã Q. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử các bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo thì thấy: Cả hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đối với bị cáo Đ, vì lần thực hiện tội phạm này đã áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung của tội phạm nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Đ là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Toà án xét xử nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phùng ngừa chung.

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay hai bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cả hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Đ có bố đẻ, mẹ đẻ được Nhà nước thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhì; anh trai ruột là liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy hai bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ ngày 13/5/2024, Đ không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

Đối với số ma túy thu giữ tại nhà Đ, vợ, con bị cáo không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q không xem xét xử lý là phù hợp.

Về xử lý vật chứng của vụ án: mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền 600.000 đồng của bị cáo Đ là tiền do thực hiện tội phạm mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí:

- Bị cáo Vũ Tiến Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Bùi Thanh T1 gia đình thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tiến Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Bị cáo Bùi Thanh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Xử phạt: Vũ Tiến Đ 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/05/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Xử phạt: Bùi Thanh T1 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/05/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 600.000 đồng. (Theo biên bản giao vật chứng và biên lai thu tiền ngày 13/08/2024 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).

Về án phí: Bị cáo Vũ Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Thanh T1.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS, CA, Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Đắc Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 183/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Tiến Đ & Bùi Thanh T - Mua bán + Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger