|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 183/2024/HS-ST Ngày: 23-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Cần;
Ông Nguyễn Đăng Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 206/2024/TLST- HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 61/2024/QĐ-HPT ngày 15 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Đỗ Trọng B, sinh năm 1969, tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Tổ F, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Trọng C (Đã chết) và bà Lê Thị N (Đã chết); có vợ tên Nguyễn Thị Xuân H và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Bị hại: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1979 (Đã chết).
- - Ông Lê Chí D, sinh năm 1972 (Là chồng);
- - Lê Chí C1, sinh năm 2000 (Là con ruột);
- - Lê Chí H1, sinh năm 2002 (Là con ruột);
- - Lê Thị Hà M, sinh ngày 27/3/2007 (Là con ruột);
Cùng cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- - Ông Phạm Văn T, sinh năm 1946 (Là cha ruột);
- - Bà Võ Thị L1, sinh năm 1953 (Là mẹ ruột);
Cùng cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo uỷ quyền của Lê Chí C1, Lê Chí H1, Lê Thị Hà M, ông Phạm Văn T, bà Võ Thị L1: Ông Lê Chí D, sinh năm 1972; nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
Bị đơn dân sự: Ông Trần Văn C2, sinh năm 1979; nơi cư trú: B, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1964; nơi cư trú: 3 khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Chỗ ở hiện nay: DC06, đường C, KDC V, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Trần Trung T2. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Trọng B là tài xế lái xe cho ông Trần Văn C2, có giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 20/5/2021, có giá trị sử dụng đến ngày 20/5/2026.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/01/2023, Đỗ Trọng B điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-465.09 đi từ bãi xe tại Công ty H2 tại khu phố B, phường K đi đến khu vực gần cầu V thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để chở đất xây dựng. Đến khoảng 13 giờ 55 phút cùng ngày, khi lưu thông trên đường V thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Đỗ Trọng B điều khiển xe vượt xe cùng chiều lưu thông nhưng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên phần khung cản thùng xe bên phải va chạm với tay lái bên trái xe mô tô biển số 83C1-629.33 do bà Phạm Thị L điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước (Bà L đi đúng phần đường quy định), gây tai nạn giao thông. Hậu quả, bà L bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện C3 đến ngày 12/01/2023 thì tử vong. Vụ tai nạn giao thông được người dân trình báo đến Công an phường T.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phường T phối hợp với lực lượng Cảnh sát giao thông Công an thành phố T tiến hành xác minh vụ việc, trích xuất hình ảnh camera an ninh và mời Đỗ Trọng B đến trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, sau khi được xem lại camera thì Đỗ Trọng B xác định là người điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-465.09 va chạm với xe mô tô biển số 83C1-629.33, nhưng do không biết va chạm, không có ai thông báo nên vẫn điều khiển xe đến khu vực xây dựng để chở chất bình thường, đến khoảng 15 giờ khi được chủ xe thông báo vụ va chạm thì đã quay xe về hiện trường tai nạn, phối hợp với Cơ quan chức năng để thực hiện các biện pháp nghiệp vụ.
Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa phẳng, mặt đường rộng 07 mét. Trên mặt đường có vạch sơn màu vàng, nét đứt chia mặt đường thành hai phần đường xe chạy bằng nhau, mỗi phần đường rộng 3,5 mét, có lề rộng và nhiều nhà dân sinh sống.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- - Xe mô tô biển số 83C1-629.33: Mối nối giữa ốp đầu đèn và ốp sau đầu đèn bị bung bát, kích thước 20cm x 2cm; Đèn tín hiệu trước bên trái bị mài mòn, kích thước 7cm x 7cm; Phần vỏ nhựa gương chiếu hậu bên trái có vết mài mòn, kích thước 5cm x 2cm; Phần đầu tay cầm bên trái có vết mài mòn kích thước 5cm x 3cm; Góc vỏ xe bên trái bị mài mòn, kích thước 10cm x 2cm; Mũi dè trước có nhiều vết mài mòn, kích thước 5cm x 15cm; Gác chân trước bên trái bị cong hướng từ trước về sau, kích thước 10cm x 10cm; Gác chân sau bên trái có vết mài mòn, kích thước 10cm x 5cm; Cảng sau bên trái có vết mài mòn, kích thước 20cm x 5cm.
- - Xe ô tô tải biển số 61C-465.09: Cảng trước, gốc bên phải bị bể, kích thước 20cm x 10cm; Cảng trước gốc bên phải có nhiều vết trượt xước, kích thước 20cm x 20cm.
Bánh xe trước bên phải, mặt ngoài bánh xe có các dấu vết. Dấu vết 1: Có nhiều dấu vết loáng sạch bụi bẩn, kích thước 30cm x 10xm. Dấu vết 2: Dấu vết loáng sạch bụi bẩn, kích thước 10cm x 7xm. Dấu vết 3: Dấu vết loáng sạch bụi bẩn, kích thước 20cm x 7xm.
Cảng bên phải xe có vết trượt xước, kích thước 8cm x 2cm.
Trục bánh xe số 2 bên phải, mặt ngoài bánh xe. Dấu vết 1: Dấu vết loáng sạch bụi bẩn, kích thước 15cm x 15cm. Dấu vết 2: Dấu vết trượt xước, kích thước 18cm x 15cm. Dấu vết 3: Dấu vết trượt xước, kích thước 20cm x 4cm.
Trục bánh xe số 3 bên phải, mặt ngoài bánh xe. Dấu vết 1: Dấu vết trượt xước, kịch thước 16cm x 10cm. Dấu vết 2: Dấu vết trượt xước, kịch thước 20cm x 15cm
Bản kết luận giám định số 87/KL-KTHS(CH) ngày 17/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe ô tô tải biển số 61C-465.09 và xe mô tô hai bánh biển số 83C1-629.33 là: Khung cản thùng xe bên phải xe ô tô tải va chạm với tay lái bên trái xe mô tô theo hướng hai xe lưu thông cùng chiều, làm xe mô tô đổ ngã qua trái va chạm với mặt đường tạo ra dấu vết trên các phương tiện.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tạm giữ đồ vật, tài liệu liên quan gồm: 01 xe ô tô tải biển số 61C-465.09; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển số 61C-465.09; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô tải biển số 61C-465.09; 01 giấy phép lái xe hạng C tên Đỗ Trọng B; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 83C1-629.33.
Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 139/2023/GĐPY ngày 08/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của Phạm Thị L là chấn thương sọ não mức độ nặng, xuất huyết não lan tỏa gây chèn ép não, chết não lâm sàng dẫn đến tử vong
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 187/KL-HĐĐGTS ngày 25/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: Xe mô tô biển số 83C1-629.33 bị thiệt hại sau tai nạn ngày 08/01/2023 là 1.573.000 đồng.
Đối với xe ô tô tải biển số 61C-465.09 do ông Trần Văn C2 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 02/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 18, trả lại xe 01 xe ô tô tải biển số 61C-465.09; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển số 61C-465.09; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô tải biển số 61C-465.09 cho ông Trần Văn C2.
Đối với xe mô tô biển số 83C1-629.33, quá trình điều tra xác định do ông Lê Chí D là chồng của bị hại đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 07/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 20, trả lại xe mô tô biển số 83C1-629.33 cho ông Lê Chí D.
Về phần trách nhiệm dân sự: Bị đơn dân sự và bị cáo đã bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 190.000.000 đồng. Đại diện bị hại không có yêu cầu gì khác.
Đối với số tiền bồi thường, bị đơn dân sự và bị cáo tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản Cáo trạng số: 216/CT-VKSTU ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đỗ Trọng B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- + Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Trọng B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
- + Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- + Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe hạng C.
- Bị cáo Đỗ Trọng B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tuy nhiên có văn bản xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường theo yêu cầu là 190.000.000 đồng, đã nhận lại xe mô tô biển số 83C1-629.33, không có yêu cầu gì khác. Về trách nhiệm hình sự có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị đơn dân sự vắng mặt tuy nhiên có văn bản xác nhận đã cùng bị cáo bồi thường cho phía gia đình bị hại số tiền 190.000.000 đồng. Không yêu cầu Toà án giải quyết đối với số tiền đã bồi thường trên. Đối với chiếc xe ô tô tải biển số 61C-465.09 đã được nhận lại. Không có yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Trọng B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, vật chứng thu giữ, kết luận giám định pháp y. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 13 giờ 55 phút ngày 08/01/2023, tại đoạn đường V thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Đỗ Trọng B điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-465.09 vượt xe không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên phần khung cản thùng xe bên phải va chạm với tay lái bên trái xe mô tô biển số 83C1-629.33 do bà Phạm Thị L điều khiển. Hậu quả, bà Phạm Thị L bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện C3 đến ngày 12/01/2023 thì tử vong.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm 01 người chết. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, được cấp giấy phép lái xe theo quy định, biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ nhưng không nghiêm chỉnh chấp hành. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về an toàn, trật tự công cộng, tước đi mạng sống của người khác, gây đau thương, mất mát cho gia đình nạn nhân, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã cùng bị đơn dân sự bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình (Có xác nhận của chính quyền địa phương), bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự; hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho bị cáo hưởng án treo, tự cải tạo ở địa phương.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị đơn dân sự cùng bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 190.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[10] Số tiền bị đơn dân sự cùng bị cáo tự nguyện bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị cáo phải trả lại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[11] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo hành nghề lái xe nên trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe hạng C.
[12] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Trọng B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng B 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (23/8/2024).
Giao bị cáo Đỗ Trọng B cho Ủy ban nhân dân phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Đỗ Trọng B 01 giấy phép lái xe hạng C tên Đỗ Trọng B.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Đỗ Trọng B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đậu Thị Loan |
Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 183/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Trọng B phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
