Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn;

Bà Nguyễn Thị Lại;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tươi, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 169/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Bế Đặng T, sinh năm 1995; Giới tính: Nam.
    • - Tên gọi khác: Không.
    • - Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm L, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
    • - Chỗ ở hiện tại: tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
    • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không.
    • - Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 11/12.
    • - Con ông: Bế Đặng H và bà La Thị L.
    • - Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.
    • - Vợ: Nông Diễm Q, sinh năm 2000.
    • - Bị cáo có 01 con, sinh năm 2018.
    • - Tiền sự, tiền án: Không.
    • - Nhân thân:
      • + Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 61/QĐ-XPHC ngày 17/3/2014 của Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt số tiền 3.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, đã nộp tiền phạt ngày 23/4/2014.
      • + Tại bản án số 08/HSST/2015 ngày 06/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong án phí tháng 6 năm 2015.
      • + Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 56/QĐ-XPHC ngày 16/02/2016 của Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt số tiền 7.500.000 đồng về hành vi vận chuyển phảo nổ, đã nộp tiền phạt ngày 16/02/2016.
    • - Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên toà)
  2. Họ và tên: Nguyễn Thị N, sinh năm 1990; Giới tính: Nữ.
    • - Tên gọi khác: Không.
    • - Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
    • - Chỗ ở hiện tại: thôn Q, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
    • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
    • - Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12.
    • - Con ông: Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị H1.
    • - Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất.
    • - Chồng: Hà Văn T1, sinh năm 1991 (đã ly hôn).
    • - Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014.
    • - Tiền sự, tiền án: Không.
    • - Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên toà)

Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 17 phút ngày 11/11/2023, Tổ công tác của Công an huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang phối hợp với Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội- Công an tỉnh B kiểm tra tại cơ sở quán K3 thuộc thôn H, xã H, huyện V (nay là tổ dân phố H, phường H, thị xã V), tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang tại phòng Vip 302, tầng 3 của quán có Bế Đặng T- sinh năm 1995, trú tại thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; thuê trọ tại: tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Thị N- sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; thuê trọ tại: thôn Q, xã Q, huyện V (nay là tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang đang có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ gồm:

  • - Thu giữ tại mặt bàn trong phòng hát: 01 thẻ nhựa màu xanh, trắng, trên thẻ có có chữ “Bế Đặng T”; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng được cuốn thành dạng ống hút, được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng số seri: AP2193446 trên mặt có bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng xám bên trên mặt có bám dính chất cục tinh thể màu trắng; 01 cốc nhựa màu trắng; 01 bật lửa gas màu xanh. Toàn bộ số vật chứng này đã được niêm phong trong 01 hộp gỗ có ký hiệu “KT1”.
  • - T2 tại túi quần phía trước bên phải của Bế Đặng T đang mặc 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy Ketamine); thu tại túi quần phía trước bên trái của Bế Đặng T đang mặc 01 tờ giấy ăn màu trắng được cuộn tròn, bên trong có 01 viên nén màu xám (nghi là ma túy kẹo). Toàn bộ số vật chứng nghi là ma túy đã được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KT2”. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, số IMEI: 353900102467663 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn đen, biển kiểm soát 11H1- 296.89.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành test nhanh chất ma túy đối với Bế Đ, Nguyễn Thị N. Kết quả T, N đều dương tính với ma tuý MDMA, MET, KET.

Ngày 11/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V (nay là thị xã V) đã trưng cầu Phòng K4- Công an tỉnh B giám định chất ma túy đối với số vật chứng nghi là ma túy được thu giữ trong quá trình bắt quả tang Bế Đ, Nguyễn Thị N. Tại bản Kết luận giám định số 2245/KL-KTHS ngày 17/11/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận:

  • - Trong 01 (một) hộp gỗ ký hiệu “KT1” đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên 01 thẻ nhựa màu xanh, trắng, trên thẻ có nhiều chữ, trong đó có chữ “Bế Đặng T”, không xác định được khối lượng. Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng được cuốn thành dạng hình ống hút, được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng, không xác định được khối lượng. Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng số sê ri: AP 2193446 được gói lại là chất ma túy, có khối lượng 0,074 gam, loại Ketamine. Chất tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt 01 (một) điện thoại OPPO màu trắng, xám là chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng. Tìm thấy chất ma túy, loại: MDMA, Ketamine trong 01 (một) cốc nhựa màu trắng, không xác định được khối lượng. Không tìm thấy chất ma túy trên 01 (một) bật lửa gas màu xanh.
  • - Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KT2” đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,172 gam, loại Ketamine; 01 (một) viên nén màu xám đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng dạng giấy ăn là ma túy, có khối lượng 0,472 gam, loại MDMA.

3

Quá trình điều tra, bị cáo Bế Đặng T3, Nguyễn Thị N khai nhận về nguồn gốc số ma túy thu giữ khi bắt quả tang như sau: Khoảng 22 giờ ngày 10/11/2023, T3 nhắn tin qua mạng xã hội zalo cho Nguyễn Thị N rủ N mua 01 chỉ ma tuý ke và 02 viên ma tuý kẹo về để sử dụng thì N đồng ý. T3 nói với N không có tiền để mua ma tuý nên N đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng xám thực hiện chuyển khoản chuyển số tiền 3.000.000 đồng từ tài khoản số 0731000651040 của N vào tài khoản số 1012841264 của T3 để T3 mua ma túy cùng sử dụng và trả tiền thuê phòng hát Karaoke. Thông qua mối quan hệ xã hội T3 biết nam thanh niên tên là “E Bống đồ” ở khu vực thị trấn B, huyện V (nay là phường B, thị xã V), tỉnh Bắc Giang là người có ma tuý bán (T3 khai không biết tuổi, địa chỉ cụ thể của B1 ở đâu), T3 gọi điện cho “E Bống đồ” qua số điện thoại 0399.893.xxx (kết quả rút list xác định chủ thuê bao là Lương Văn Q1- sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương) đặt mua của “E Bống đồ” 01 chỉ ma tuý Ketamin và 02 viên ma tuý kẹo và được “E Bống đồ” báo giá hết tổng số tiền là 1.600.000 đồng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T3 điều khiển xe mô tô Honda Lead, màu sơn đen, biển kiểm soát 11H1- 296.89, đăng ký xe mang tên Nông Diễm Q- sinh năm 2000, trú tại thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng (là vợ T3) đến đón N. Sau đó, T3 chở N đến khu vực thị trấn B, huyện V (nay là phường B, thị xã V), tỉnh Bắc Giang nhưng T3 và N đều không nhớ rõ là ở khu vực nào. Tại đây, T3 gặp người thanh niên tên B1 đeo khẩu trang, khoảng 20 tuổi đi xe mô tô nhãn hiệu Exciter (T3, N khai không rõ biển kiểm soát) đến, T3 được B1 đưa cho T3 01 gói giấy ăn được cuộn tròn, bên trong có 02 viên ma tuý kẹo màu xám và 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa viền màu xanh bên trong có ma tuý K, T3 cầm số ma túy mua được cất giấu vào trong túi áo, đồng thời “E Bống đồ” cho T3 tài khoản để T3 chuyển khoản trả tiền mua ma túy. Sau đó, T3 và N đi đến quán K3 thuộc thôn H, xã H, huyện V (nay là tổ dân phố H, phường H, thị xã V) để thuê phòng hát và cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 00 giờ ngày 11/11/2023, T3 đến gặp chị Chảo Thị P- sinh năm 1999, trú tại bản Liên Hợp, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu là nhân viên của quán hỏi thuê phòng hát, chị P đã điện thoại cho anh Nguyễn Văn H2- sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố H, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là chủ quán hỏi “Anh ơi, hôm nay còn nhận phòng hát không” thì anh H2 trả lời “Cả ngày chưa có khách vào hát, em nhận đi”. Sau đó, chị P đã đồng ý cho T3, N thuê phòng Vip 302, tầng 3 của quán K3 để hát. Sau khi lên phòng hát, T3 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax thực hiện chuyển khoản số tiền 1.600.000 đồng từ tài khoản số 1012841264 của T3 vào tài khoản 1018775193 cho B1 để mua ma túy (kết quả cung cấp thông tin tài khoản của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 xác định là Lương Văn Q1). Sau đó, T3 bỏ số ma túy mua được ra để ở bàn rồi lấy 01 viên ma túy kẹo cho vào cốc nhựa và đổ lon nước C vào hòa tan với ma túy, viên ma túy kẹo còn lại T3 gói lại vào giấy ăn và cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc; Tiếp đến, T3 lấy 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng từ trong túi quần ra rồi đổ 2/3 số ma túy Ketamine lên tờ tiền và dùng bật lửa hơ nóng phía dưới, sau đó T3 mượn chiếc điện thoại Oppo màu trắng, xám của N rồi đổ ma túy lên trên mặt điện thoại, sử dụng thẻ công nhân màu xanh của T3 để xào K1, kẻ thành 04 đường K (số ma túy Ketamine còn lại trong túi nilon T3 cất vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc). Để sử dụng ma túy, T3 lấy 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng quấn thành tẩu cố định lại

4

bằng đầu lọc thuốc lá. Sau đó, T3 và N dùng tẩu hít sử dụng hết số ma túy này; Sau khi sử dụng xong số ma túy Ketamine trên, T3 và N lần lượt uống hết cốc nước Cocacola có chứa ma túy kẹo mà T3 đã pha trước đó. Theo T3, N khai: Số ma túy kẹo và ma túy Ketamine còn lại do sợ bị rơi nên T3 đã cất vào trong túi quần với mục đích sau khi nghe nhạc khoảng 01 giờ sau thì cả hai sẽ sử dụng hết số ma túy này. Đến khoảng 01 giờ 17 phút ngày 11/11/2023 thì T3 và N đang bị Tổ công tác của Công an huyện V (nay là thị xã V) phối hợp với Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội- Công an tỉnh B kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng liên quan.

Căn cứ lời khai của Bế Đặng T3 và các tài liệu điều tra thu thập được, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thông tin cá nhân chủ tài khoản ngân hàng A và chủ thuê bao số điện thoại 0399.893.xxx để làm rõ người bán ma túy cho T3, N sử dụng. Kết quả xác định chủ tài khoản ngân hàng và chủ thuê bao trên là Lương Văn Q1- sinh năm 1999, trú tại thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập đối với Lương Văn Q1 đến làm việc. Kết quả xác định Q1 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và địa phương không nắm được; Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với Q1 nhưng đến nay chưa có kết quả nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi có dấu hiệu tội “Mua bán trái phép chất ma túy” cùng tài liệu liên quan đến Lương Văn Q1 ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Đối với anh Nguyễn Văn H2 là chủ cơ sở kinh doanh Karaoke V và chị Chảo Thị P là nhân viên quán hát. Quá trình điều tra xác định anh H2, chị P không biết Bế Đặng T3 và Nguyễn Thị N sử dụng ma túy tại phòng Vip302, tầng 3 của quán K3 nên anh H2, chị P không vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ tài liệu điều tra thu thập được xác định tại thời điểm công tác kiểm tra hành chính, cơ sở kinh doanh Karaoke Vertu do anh H2 làm chủ đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh (theo Quyết định số 64/QĐ-TCKH ngày 23/02/2023 của Phòng tài chính kế hoạch huyện V) và đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động (theo Quyết định số 6059/QĐĐC-CSPCCC&CNCH ngày 16/12/2022 của Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ- Công an tỉnh B). Do vậy, anh Nguyễn Văn H2 đã vi phạm hành vi Không chấp hành quyết định đình chỉ hoạt động theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy vi phạm khoản 4 Điều 30 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ,.... Do mức phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm trên thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND tỉnh B nên Cơ quan điều tra đã đề nghị Trưởng Công an thị xã V có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân thị xã V xem xét trình Chủ tịch UBND tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Nguyễn Văn H2. Ngày 08/4/2024, Chủ tịch UBND tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 40.000.000 đồng đối với Nguyễn Văn H2 về hành vi không chấp hành quyết định đình chỉ hoạt động theo quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy.

5

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11H1- 296.89 đăng ký mang tên Nông Diễm Q (là vợ của Bế Đặng T3) là tài sản của vợ chồng bị cáo T3; Quá trình điều tra, xác định chị Q không biết việc T3 sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy về sử dụng vào tối ngày 10/11/2023 nên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật để xử lý theo quy định.

Đối với 01 cốc nhựa màu trắng là của quán K3; 01 bật lửa gas màu xanh; 01 chiếc thẻ nhựa màu xanh có chữ “Bế Đặng T3”; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; 01 chiếc điện thoại Iphone màu xanh có số Imei: 353900102467663 là tài sản của bị cáo T3; 01 chiếc điện thoại Oppo màu trắng xám là của bị cáo N. Tất cả các tài sản trên là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã nhập kho các vật chứng trên cùng với số ma túy còn lại sau giám định để xử lý theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:

Áp dụng vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Bế Đặng T3 từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 11/11/2023.

Áp dụng vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 11/11/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho chị Nông Diễm Q chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11H1- 296.89 đăng ký mang tên Nông Diễm Q.

Tịch thu tiêu huỷ 01 cốc nhựa màu trắng; 01 bật lửa gas màu xanh; 01 chiếc thẻ nhựa màu xanh có chữ “Bế Đặng T3”;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. 01 chiếc điện thoại Iphone màu xanh có số Imei: 353900102467663; 01 chiếc điện thoại Oppo màu trắng xám.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Bế Đặng T3Nguyễn Thị N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

6

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/11/2023, Bế Đặng T3Nguyễn Thị N rủ nhau cùng góp tiền mua ma túy để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; N chuyển cho T3 3.000.000 đồng để mua ma túy kẹo và K2. Sau khi mua được ma túy, T3 và N thuê phòng 302, tầng 3 của quán K3 thuộc thôn H, xã H, huyện V (nay là tổ dân phố H, phường H, thị xã V), tỉnh Bắc Giang rồi pha ma túy Kẹo vào nước C-cola để uống; T3 và N dùng tờ tiền 2.000 đồng và điện thoại di động nhãn hiệu Oppo của N để xào chất ma túy Ketamine, đồng thời T3 sử dụng tờ tiền 200.000 đồng và đầu lọc thuốc lá để quấn tẩu rồi T3, N cùng nhau sử dụng chất ma túy Ketamine. Đến khoảng 01 giờ 17 phút ngày 11/11/2023 thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang phối hợp với Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội- Công an tỉnh B kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 0,472 gam chất ma túy loại MDMA và 0,246 gam chất ma túy loại Ketamin, T3 và N đều khai số ma túy trên mục đích sử dụng hết tại phòng 302,tầng 3 quán K3 nếu không bị bắt. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Bế Đặng T3, Nguyễn Thị N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền quản lý, ma túy gây tổn hại về mặt kinh tế của gia đình và bản thân người sử dụng, gây hủy hại về sức khỏe của con người, suy giảm giống nòi dân tộc, là nguyên nhân phát sinh căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS, làm nảy sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự, an ninh chính trị tại địa phương, gây nỗi bất bình trong quần chúng nhân dân. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi vận chuyển, tàng trữ, mua bán, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

[4] Về nhân thân, vai cho của từng bị cáo: Trước khi phạm tội bị cáo T3 là người có nhân thân xấu:

  • + Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 61/QĐ-XPHC ngày 17/3/2014 của Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt số tiền 3.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, đã nộp tiền phạt ngày 23/4/2014.
  • + Tại bản án số 08/HSST/2015 ngày 06/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong án phí tháng 6 năm 2015.
  • + Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 56/QĐ-XPHC ngày 16/02/2016 của Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt số tiền 7.500.000 đồng về hành vi vận chuyển phảo nổ, đã nộp tiền phạt ngày 16/02/2016.

Bị cáo T3 là người khởi xướng và rủ re bị cáo N, trực tiếp cùng với bị cáo N đi mua ma tuý nên giữ vai trò chính và chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo N.

[5] Về Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo T3, N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Từ những phân tích trên, cần xử phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11H1- 296.89 đăng ký mang tên Nông Diễm Q (là vợ của Bế Đặng T3) là tài sản của vợ bị cáo T3; Quá trình điều tra, xác định chị Q không biết việc T3 sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy về sử dụng vào tối ngày 10/11/2023 nên cần trả lại cho chị Q.

Đối với 01 cốc nhựa màu trắng là của quán K3; 01 bật lửa gas màu xanh; 01 chiếc thẻ nhựa màu xanh có chữ “Bế Đặng T3” là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.

01 chiếc điện thoại Iphone màu xanh có số Imei: 353900102467663 là tài sản của bị cáo T3; 01 chiếc điện thoại Oppo màu trắng xám là của bị cáo N là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

8

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Bế Đặng T3 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 11/11/2023.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 11/11/2023.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Trả lại cho chị Nông Diễm Q chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11H1- 296.89 đăng ký mang tên Nông Diễm Q.
    • Tịch thu tiêu huỷ 01 cốc nhựa màu trắng; 01 bật lửa gas màu xanh; 01 chiếc thẻ nhựa màu xanh có chữ “Bế Đặng T3
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. 01 chiếc điện thoại Iphone màu xanh có số Imei: 353900102467663; 01 chiếc điện thoại Oppo màu trắng xám.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Bế Đặng T3Nguyễn Thị N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND TX. Việt Yên, t. Bắc Giang;
  • - Công an TX. Việt Yên, t. Bắc Giang;
  • - Cơ quan THAHS Công an TX. Việt Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - CCTHADS TX. Việt Yên, t. Bắc Giang;
  • - Bị cáo (qua Trại tạm giam);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Trường

9

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 183/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tổ chức sd ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger